Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 224/2023/HSST

Ngày 14/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thu Trang
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Loan

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh T - Kiểm sát viên

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 202/2023/TLHS-ST, ngày 14/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2023/QĐXXST-HS, ngày 28/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Minh T1; sinh ngày 04 tháng 8 năm 1983.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không.

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Dương Văn B, sinh năm 1943. Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1942. Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: 05.

  • + Tại Bản án số 257/2005/HSST ngày 29/12/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Giá trị tài sản là 70.000 đồng). Đã nộp án phí ngày 13/8/2007.
  • + Tại Bản án số 20/2007/HSST ngày 05/02/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Giá trị tài sản là 2.600.000 đồng). Đã nộp án phí tháng 09/2007. Ra trại ngày 15/3/2008.
  • + Tại Bản án số 12/2010/HSST ngày 25/01/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Giá trị tài sản là 800.000 đồng). Đã nộp án phí ngày 28/8/2012. Ra trại ngày 31/10/2011.
  • + Tại Bản án số 320/2012/HSST ngày 10/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã nộp án phí ngày 13/11/2012. Ra trại ngày 08/5/2015.
  • + Tại Bản án số 170/2017/HSST ngày 11/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 03/01/2023.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 01/12/2005, Công an xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 125.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên kết quả xác minh, Công an xã T (hiện nay là Công an phường T) hiện không quản lý, lưu trữ hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Minh T1.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2023 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1956 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ E, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Hồi 08 giờ 00 phút ngày 10/3/2023, tổ công tác của Công an phường G, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực tổ B của phường thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Dương Minh T1 và tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái của T1 02 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T1 khai đó là H vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Dương Minh T1 có khối lượng 0,151 gam (niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định).

Tại Kết luận giám định số 501/KL-KTHS ngày 18/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,151 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Minh T1 khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/3/2023, T1 đi xe ôm từ nhà tại tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ E, phường G, thành phố T. Khi đến nơi, T1 gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 02 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong, T1 cầm gói Heroine vào trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi T1 đi đến khu vực tổ B, phường G, thành phố T thì bị tổ công tác của Công an phường G phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của Dương Minh T1 phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định (BL: 28, 43-44, 49).

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu A1 bên trong chứa 0,141 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong kí hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Tại bản cáo trạng số 208/CT-VKSTPTN, ngày 13/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Dương Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Xử phạt bị cáo Dương Minh T1 mức án từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng.

Về hình phạt bổ sung (bằng tiền): Miễn phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Dương Minh T1 khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/3/2023, T1 đi xe ôm từ nhà tại tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ E, phường G, thành phố T. Khi đến nơi, T1 gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 02 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong, T1 cầm gói Heroine vào trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi T1 đi đến khu vực tổ B, phường G thì bị tổ công tác của Công an phường G phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận của Dương Minh T1 phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định...

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 10/3/2023, tại khu vực tổ B, phường G, thành phố T, Dương Minh T1 đang có hành vi tàng trữ 0,151 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường G, T, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi tàng trữ 0,151 gam ma túy loại Heroine của Dương Minh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Năm 2017 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 249 BLHS với định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm, bị cáo ra trại ngày 03/01/2023, chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

o) Tái phạm nguy hiểm”

[3]. Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, làm suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T1 đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

- Xét nhân thân lý lịch của bị cáo: Bị cáo T1 trước đây có tên khai sinh là Dương Văn T2, sinh ngày 26/3/1984. Ngày 16/01/2023 bị cáo đã làm thủ tục đính chính giấy khai sinh thành tên Dương Minh T1, sinh ngày 04/8/1983, đồng thời bị cáo cũng đi đăng ký định danh cá nhân là Dương Minh T1, sinh ngày 04/8/1983. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đường vân tay trong danh bản và chỉ bản của Dương Minh T1, sinh năm 1983 và Dương Văn T2, sinh năm 1984. Tại Kết luận giám định số 600/KL – KTHS, ngày 19/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh T đã kết luận dấu vân tay của Dương Minh T1 so với dấu vân tay của Dương Văn T2 do cùng một người in ra. Như vậy có thể khẳng định Dương Minh T1Dương Văn T2 là một người.

Bị cáo T2 đã nhiều lần bị Toà án xét xử cụ thể:

  • Bản án số 257/2005/HSST ngày 29/12/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã nộp án phí ngày 13/8/2007.
  • Bản án số 20/2007/HSST ngày 05/02/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã nộp án phí tháng 09/2007, ra trại ngày 15/3/2008.
  • Bản án số 12/2010/HSST ngày 25/01/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã nộp án phí ngày 28/8/2012, ra trại ngày 31/10/2011.
  • Bản án số 320/2012/HSST ngày 10/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã nộp án phí ngày 13/11/2012, ra trại ngày 08/5/2015.
  • Bản án số 170/2017/HSST ngày 11/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Dương Văn T2 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 03/01/2023.

Trong hồ sơ vụ án thể hiện tại Bản án 170/2017/HSST, ngày 11/5/2017 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xác định bị cáo có 02 tiền án là tại Bản án số 12/2010/HSST, ngày 25/01/2010 và Bản án số 320/2012/HSST, ngày 10/9/2012 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Mặt khác, tại Bản cáo trạng số 208/CT – VKSTPTN, ngày 13/7/2023 đã xác định Dương Minh T1 có 04 tiền án tại các Bản án số 20/2007/HSST, ngày 05/02/2007, Bản án số 12/2010/HSST, ngày 25/01/2010, Bản án số 320/2012/HSST, ngày 10/9/2012 và Bản án số 170/2017/HSST, ngày 11/5/2017 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc xác định tiền án của bị cáo T1 như theo Bản án số 170/2017/HSST, ngày 11/5/2017 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên và Bản cáo trạng số 208/CT – VKSTPTN, ngày 13/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên là chưa đảm bảo, vì các bản án xét xử trước đã có hiệu lực pháp luật, bị cáo cũng chưa được xoá án tích đối với các bản án trước nên khi bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thì đều xác định các bản án trước là tiền án đối với bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử xác định bị cáo T1 có 05 tiền án đã được nêu tại phần nhân thân là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo T1 đã nhiều lần bị Toà án xét xử về các tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tuy nhiên bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân, bị cáo là người nghiện ma tuý nhiều năm, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo nghiện ma tuý nên đã lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo T1 mức án từ 6 năm đến 7 năm tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) cho bị cáo.

[7]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

[8]. Đối với số ma túy bị thu giữ, Dương Minh T1 khai đã mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Minh T1 6 (sáu) năm 6 (sáu) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/3/2023.
  3. Về phạt bổ sung (phạt tiền): Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
  4. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Dương Minh T1 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
  5. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1 và A2.

    (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 178/QĐ-VKSTPTN ngày 13/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).

  6. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Minh T1 phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
  7. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2023/HSST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 224/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Minh Thiệu - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger