|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 224/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-07-2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh và ông Hồ Bá Võ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1983. Địa chỉ: C, S, F, WA6 6PT (Vương quốc Anh). Nơi đăng ký hộ khẩu trước khi xuất cảnh: xóm D, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: xóm D, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1966. Địa chỉ: xóm D, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Phương Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị Nguyễn Thị H quen biết nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 20/4/2004 tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc và có với nhau 03 (ba) con chung. Đến năm 2016 vì lý do cá nhân nên anh Đ đi làm và sinh sống tại Vương quốc Anh. Do khoảng cách địa lý nên tình cảm của vợ chồng không còn gắn bó với nhau nữa, thời gian liên lạc với nhau cũng không còn nên tình cảm đã phai nhạt, giữa anh Đ và chị H không còn tiếng nói chung. Nay anh Đ thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cho anh Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Anh Đ và chị H có 03 con chung, gồm Nguyễn Nhật K, sinh ngày 31/05/2005, Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/02/2010 và Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 15/7/2011. Hiện tại, con Nguyễn Nhật K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hai con chung Nguyễn Gia B và Nguyễn Ngọc Phương V đang ở với bà nội là Phạm Thị H1 (mẹ đẻ của anh Đ). Ly hôn, nguyện vọng của anh Đ là được tiếp tục nuôi hai con chung B, V đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Trong thời gian anh Đ sinh sống tại nước A thì anh Đ tiếp tục nhờ bà Phạm Thị H1 nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi anh Đ về nước (Việt Nam). Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Đ không yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Phương Đ không yêu cầu Tòa án xem xét.
Về phía bị đơn chị Nguyễn Thị H: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu chị Nguyễn Thị H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị H đều vắng mặt. Tại biên bản xác minh lập ngày 08/5/2024, công an xã N xác nhận nội dung: Hiện nay chị Nguyễn Thị H đang có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại xóm D, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; chị H chưa cắt khẩu và không chuyển đi nơi khác. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã nhiều lần đến tại nhà chị Nguyễn Thị H địa chỉ xóm D, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An để tống đạt các văn bản tố tụng, đồng thời làm việc với chị H để lấy ý kiến của chị H đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ. Tuy nhiên chị H không có mặt ở nhà, liên lạc với chị H qua số điện thoại do anh Đ cung cấp thì chị H không nghe máy, nhắn tin cho chị H thông qua ứng dụng zalo theo số điện thoại 0347.577.xxx thì chị H nhắn tin trả lời là không liên quan, ai nộp đơn thì Tòa án đi làm việc với người đó. Ngoài ra, không có ý kiến gì thêm.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1: Anh Nguyễn Phương Đ và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau vào năm 2004 và hiện nay có 03 con chung gồm Nguyễn Nhật K, sinh ngày 31/5/2005, Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/02/2010 và Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 15/7/2011. Hiện nay, cháu K đã trưởng thành và đi làm, còn cháu B và cháu V đang sống cùng bà. Nay anh Đ và chị H ly hôn thì bà không yêu cầu anh Đ, chị H trả tiền cấp dưỡng, chăm sóc và quản lý 02 cháu B, cháu V từ khi anh Đ đi nước ngoài cho đến nay và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu Tòa án giao 02 cháu B và V cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành thì bà H cam đoan nhận nuôi hai cháu, đến khi anh Đ trở về Việt Nam bà sẽ giao lại hai cháu cho anh Đ.
Ý kiến các con chung Nguyễn Gia B, Nguyễn Ngọc Khánh V1: Nếu bố, mẹ ly hôn các con mong muốn được tiếp tục sống cùng bà nội là Phạm Thị H1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định pháp luật.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 77 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt, không chấp hành các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, và Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất hợp lệ nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Phương Đ ly hôn chị Nguyễn Thị H; giao hai con chung Nguyễn Gia B sinh ngày 05/02/2010 và Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 15/7/2011 cho anh Nguyễn Phương Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung không xem xét, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Phương Đ có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại xóm D, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, hiện nay đang sinh sống và làm việc tại V. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt nhiều lần không có lý do. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản trình bày ý kiến của chị H, nên được coi như trường hợp bị đơn từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc mở phiên toa cho các đương sự, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung .
[2] Nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phương Đ và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 20/04/2004 tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa anh Đ và chị H là hôn nhân hợp pháp. Năm 2016 vì lý do cá nhân, anh Đ đi làm và sinh sống tại Vương quốc Anh. Do khoảng cách địa lý nên tình cảm của vợ chồng không còn gắn bó với nhau và đã phai nhạt, cả hai không còn liên lạc với nhau, giữa anh Đ và chị H không còn tiếng nói chung. Anh Đ làm đơn xin ly hôn, chị H đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Đ, tuy nhiên chị H từ chối làm việc, không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của anh Đ. Xét thấy, tình cảm giữa anh Đ và chị H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Phương Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Con chung: Anh Nguyễn Phương Đ và chị Nguyễn Thị H có 03 con chung. Con chung Nguyễn Nhật K, sinh ngày 31/05/2005 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết; hai con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/02/2010 và Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 15/7/2011 hiện đang do bà Phạm Thị H1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ly hôn, anh Đ có nguyện vọng được nuôi hai con chung là chính đáng. Mặc dù, anh Đ hiện đang sinh sống, lao động ở nước ngoài, không có điều kiện thực tế để chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, giáo dục con chung, tuy nhiên xét điều kiện thực tế hiện nay, mẹ anh Đ là bà Phạm Thị H1 đang trực tiếp chăm sóc hai con chung giúp anh Đ. Quá trình giải quyết ly hôn, chị H1 không có ý kiến gì về việc ly hôn cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các con chung, cần áp dụng Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, giao các con chung cho anh Nguyễn Phương Đ chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về việc quản lý, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh Đ đang ở nước ngoài, bà Phạm Thị H1 tự nguyện cam kết nhận chăm sóc, quản lý hai con chung Nguyễn Gia B và Nguyễn Ngọc Phương V giúp anh Đ, không yêu cầu anh Đ, chị H1 phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc, quản lý các con chung trong thời gian anh Đ chưa về nước. Cần ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H1 về việc chăm sóc, quản lý các con chung giúp anh Đ trong thời gian anh Đ đang ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Đ không yêu cầu, chị H1 chưa có ý kiến, Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xem xét.
Dành quyền khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H1 theo quy định của pháp luật.
[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Phương Đ không yêu cầu giải quyết, chị H1 không có ý kiến, Tòa án chưa có cơ sở để xem xét, giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Án phí: Anh Nguyễn Phương Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phương Đ.
- Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phương Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Con chung:
- Giao 02 (hai) con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/02/2010 và Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 15/7/2011 cho anh Nguyễn Phương Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Phương Đ không yêu cầu, chị Nguyễn Thị H chưa có ý kiến.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Án phí: Buộc anh Nguyễn Phương Đ phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012726 ngày 13/3/2024 có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 224/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 224/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Đ H
