TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 224/2024/DS-PT Ngày: 07-5-2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Kim Nga
Bà Lê Thị Bích Tuyền
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2023/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 159/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1962.
- Bà Phan Thị M, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Hòa B, sinh năm: 1953.
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 09/4/2021).
- Bị đơn:
- Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1962.
- - Bà Trần Thị T1, sinh năm 1969.
- - Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1990.
- - Bà Huỳnh Thị Cẩm T2, sinh năm 1986.
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1969.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1:
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1990 .
- Bà Huỳnh Thị Cẩm T2, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị T1.
(các đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2021, 04/5/2021, 18/8/2023, 28/8/2023, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Huỳnh Văn T và bà Phan Thị M do ông Huỳnh Văn T đại diện trình bày: Ngày 24/4/2003, ông T, bà M có nhận chuyển nhượng của ông B1, bà T1 diện tích đất 160m² (ngang 4m x dài 40m) thuộc một phần thửa đất số 939, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Năm 2012, Nhà nước mở rộng kênh thủy lợi nên chiều dài còn lại 24m. Hiện đo đạc thực tế 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7 theo mãnh trích đo địa chính 2922-2021 ngày 15/12/2021 của Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên môi trường biển khu vực phía Nam được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 22/12/2021 (gọi tắt là mãnh trích đo 2922-2021). Giá chuyển nhượng là 500.000 đồng. Ông T đã trả đủ tiền cho ông B1 và đổ đất trên diện tích đất nhận chuyển nhượng để sử dụng làm lối đi vào thửa đất số 4758, 897 của ông T ở phía trong từ năm 2003 đến khi phát sinh tranh chấp năm 2021. Ông B1 đã trồng hàng rào dâm bụt phân ranh giữa phần đất còn lại của ông B1 với phần diện tích đất chuyển nhượng cho ông T. Việc chuyển nhượng đất được lập thành văn bản 02 lần. Lần thứ nhất ông T viết "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 do ông T và ông B1 ký tên. Lần thứ hai nhờ bà Trần Thị Cẩm V viết hộ "giấy mua bán đất" ngày 08/3/2012, sau khi Nhà nước mở đường thì ghi lại cho rõ diện tích và cũng do ông T và ông B1 ký tên. Ông T nhiều lần yêu cầu ông B1 làm thủ tục chuyển quyền theo quy định pháp luật nhưng ông B1 nói từ từ và đến năm 2021 thì ông B1 đổ đá trên diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông T, ông T không tiếp tục sử dụng làm đường đi được nên phát sinh tranh chấp. Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 giữa ông T với ông B1 về việc chuyển nhượng diện tích đất 95m² (theo kết quả đo đạc thực tế) thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Buộc ông B1, bà T1 làm thủ tục chuyển quyền sử dụng diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông T, bà M.
- Buộc bà Trần Thị T1 và ông Huỳnh Tấn P tháo dỡ lưới rào B40 và ngưng xây dựng trên phần diện tích đất tranh chấp.
Bị đơn ông Huỳnh Văn B1 trình bày: Ông B1 và bà T1 cho ông T mượn diện tích đất hiện đang tranh chấp để sử dụng làm lối đi vào nhà của ông T. Đến năm 2021 thì ông B1, bà T1 không tiếp tục cho ông B1 mượn đất, muốn lấy đất lại nên phát sinh tranh chấp. Bản chính giấy viết tay ngày 08/3/2012 ông B1 có lăn tay nhưng ông B1 không biết chữ nên không biết nội dung gì. Ông T nói lăn tay để cho mượn đất vì ông B1 đã bị mù khoảng 07 đến 08 năm. Đối với giấy viết tay ngày 24/4/2003 đã quá lâu, ông B1 không nhớ có ký tên hay không. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1 gồm bà T1, bà T2, ông P không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Bà Trần Thị T1 (đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1) trình bày: Ông B1 và bà T1 chỉ cho ông T mượn diện tích đất tranh chấp làm lối đi, không có việc chuyển nhượng. Khi ông B1, bà T1 muốn lấy đất lại không tiếp tục cho ông T mượn thì phát sinh tranh chấp. Ông T mượn đất làm đường đi thì phải tự đổ đất gia cố để làm đường đi. Ông B1 không biết chữ nên không đủ năng lực để ký hợp đồng. Nếu có hợp đồng thì có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thực hiện. Hợp đồng mua bán không có chứng thực từ chính quyền địa phương, không giáp mặt với bà T1 và các con ông B1. Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng ông B1, bà T1 nhưng bà T1 hoàn toàn không biết việc ông T, ông B1 chuyển nhượng và tiền bạc liên quan đến việc chuyển nhượng. Người làm chứng là ông Trương Văn T3 có quyền lợi trực tiếp trong bản hợp đồng. Bà T1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T, bà M. Bà T1 yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu 02 giấy mua bán đất viết tay ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông B1. Từ tháng 8 năm 2023, bà T1 và ông Phú p hàng rào dâm bụt, rào lưới B40 xung quanh diện tích đất tranh chấp để thuận tiện trong việc quản lý sử dụng đất và ngăn trộm vào nhà. Đồng thời bà T1 ông P đào 01 hố hình tròn và 01 hố hình chữ nhật trên diện tích đất tranh chấp để làm lò hầm than củi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Thị Cẩm T2 và ông Huỳnh Tấn P trình bày: Bà T2, ông P không đồng ý toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông T. Bà T2, ông P đồng ý toàn bộ phần trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà T1.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 31/2023/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Huỳnh Văn B1 và bà Trần Thị T1.
- Đông giáp: thửa 893.
- Tây giáp: thửa 4746 phần còn lại.
- Nam giáp: thửa 4758
- Bắc giáp: đường đá xanh.
- Về chi phí tố tụng: Bà T1 phải chịu toàn bộ số tiền 8.732.000 đồng (tám triệu, bảy trăm ba mươi hai nghìn đồng) chi phí tố tụng để trả lại cho ông T đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T1 về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Văn B1.
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 giữa ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Văn B1 đối với diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, có tứ cận:
(độ dài từng cạnh và vị trí tiếp giáp cụ thể theo mãnh trích đo địa chính 2922-2021 ngày 15/12/2021 của Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên môi trường biển khu vực phía Nam được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 22/12/2021, được đính kèm theo bản án).
Buộc bà Trần Thị T1, ông Huỳnh Tấn P phải: tháo dỡ hàng rào lưới B40 trụ bê tông đúc sẵn dài 29m x cao 1,5m trên diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và buộc bà Trần Thị T1, ông Huỳnh Tấn P phải lấp 01 hố đào hình tròn đường kính 2,5m x sâu 0,5m và phải lấp 01 hố đào hình chữ nhật ngang 0,6m x dài 1,6m x sâu 0,6m trên diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để trả diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông T, bà M quản lý sử dụng.
Ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đối với diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bên được thi hành án làm thủ tục kê khai, đăng ký để được điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi một phần diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà Trần Thị T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà T1 đã nộp theo các biên lai thu số 0001169, 0001170 cùng ngày 07-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ. Trả lại cho bà T1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0009192 ngày 11-5-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 08/11/2023, bà Trần Thị T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Trần Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Huỳnh Thị Cẩm T2 cùng trình bày: Đất tranh chấp là do ông B1 cho ông T mượn để ông T làm lối đi. Vì là chổ anh em ruột nên không làm giấy tờ. Ông T, bà M cho rằng ông Bình bán đất cho ông T là không đúng, nếu có bán đất thì phải có công chứng. Nếu có việc ông Bình bán đất cho ông T thì phải có sự đồng ý của bà T1. Lời khai của người làm chứng là không khách quan nên đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T1.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn T trình bày: Bà T1 cho rằng ông T mượn đất để sử dụng làm đường đi là không đúng, không có chứng cứ chứng minh. Việc ông T nhận chuyển nhượng đất từ ông B1 thể hiện bằng 02 giấy viết tay để sử dụng làm đường đi từ năm 2003 là có thật. Ông T đã trả đủ tiền cho ông B1 là có thật vì phù hợp với nội dung các giấy viết tay, phù hợp với lời khai những người làm chứng. Mặc dù bà T1 không ký tên trong giấy tay chuyển nhượng nhưng ông T đã nhận đất và quản lý, sử dụng công khai từ năm 2003 đến khi phát sinh tranh chấp, bà T1 biết nhưng không phản đối nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm. Các đương sự có mặt tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Điều 72 Điều 73 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo:
Kháng cáo của bị đơn, bà Trần Thị T1 đảm bảo các nội dung theo quy định tại Điều 272 BLTTDS, và đúng thời hạn theo quy định tại điều 273 BLTTDS. Do đó kháng cáo đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
3. Quan điểm giải quyết vụ án:
Xét kháng cáo của bà T1 thấy rằng: Về quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp: đất tranh chấp diện tích thực tế là 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Các bên đều thừa nhận ông T đã sử dụng diện tích đất tranh chấp làm lối đi từ năm 2003 đến năm 2021 mới phát sinh tranh chấp. Quá trình sử dụng ông T đã đổ đất, san lấp phần diện tích đất tranh chấp. Trước đây có 01 hàng rào dâm bụt giữa diện tích đất ông B1, bà T1 đang sử dụng hiện nay (phần còn lại của thửa 4746) với diện tích đất tranh chấp. Từ năm 2021, bà T1 không cho ông T sử dụng mà bà T1 và ông P trực tiếp sử dụng và đến tháng 8 năm 2023, bà T1 và ông Phú p hàng rào dâm bụt, rào xung quanh đất bằng lưới B40 và đào 02 hố trên diện tích đất tranh chấp.
Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện bằng 02 “giấy mua bán đất” ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012: bà T1, ông B1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1 cho rằng ông B1 không biết chữ nhưng các tài liệu Tòa án thu thập được có văn bản có chữ ký phía trên tên Huỳnh Văn B1 (sổ vay vốn mã KH 7071418530 ngày 20/02/2016, đơn đề nghị tách thửa đất hợp thửa đất ngày 31/5/2019, biên bản về việc vận động người dân hiến đất ngày 13/5/2019, đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/9/1997); các hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất cho Huỳnh Thị Cẩm T2 ngày 20/10/2020, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Anh M1 ngày 10/7/2019, 02 hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Dương Thị Châu L và ông Nguyễn Văn T4 cùng ngày 07/12/2020 đều có chữ ký của ông B1 và được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật. Do đó việc ông B1, bà T1, bà T2, ông P cho rằng ông B1 không biết chữ, không biết các nội dung 02 “giấy mua bán đất” ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 do ông T cung cấp là không có cơ sở chấp nhận. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/6/2021, bản thân ông B1 thừa nhận có lăn tay vào giấy 08/3/2012, còn đối với giấy mua bán đất ngày 24/4/2003 ông B1 không nhớ có ký tên hay không. Những người làm chứng ông Trương Văn T3, bà Trần Thị Cẩm V (viết hộ giấy ngày 08/3/2012), bà Nguyễn Thị N đều xác định ông T và ông B1 có ký tên vào giấy mua bán đất và khi ký tên vào giấy mua bán đất ông B1 còn khỏe mạnh, chưa có bệnh về mắt. Từ đó có cơ sở để chấp nhận trình bày của ông T về việc ông B1 có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông T diện tích đất ngang 4m x dài hết thửa đất 939 (cũ), hiện nay là một phần thửa 4746 để làm lối đi thể hiện bằng 02 “giấy mua bán đất” ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012.
Ông T cho rằng đã trả đủ 500.000 đồng tiền thỏa thuận chuyển nhượng đất cho ông B1 là phù hợp với lời khai của ông Trương Văn T5 người làm chứng bà Trần Thị Cẩm V về việc bà V ghi hộ giấy mua bán đất ngày 08/3/2012 ghi nhận việc ông T đã trả tiền cho ông B1 và đọc lại cho ông B1 nghe rồi ông B1 ký tên.
Tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông B1 không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng ông T đã trả đủ tiền cho ông B1, ông B1 đã giao đất cho ông T, có hàng rào dâm bụt phân ranh cụ thể để ông B1 đổ đất lên, san lấp làm lối đi từ năm 2003 đến năm 2021 mới phát sinh tranh chấp.
Bà T1 không có ký tên trong 02 “giấy mua bán đất” ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 nhưng bà T1 vẫn sinh sống tại địa phương, bà T1 không có ý kiến và không cung cấp chứng cứ gì về việc đã phản đối ông T sử dụng đất từ năm 2003 đến năm 2021. Bà T1 còn thừa nhận gia đình ông B1 làm hàng rào dâm bụt phân ranh với diện tích đất ông T sử dụng làm lối đi. Từ đó có căn cứ để công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông B1 theo Điều 116 và Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015. Phía ông B1, bà T1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1 cho rằng cho ông T mượn đất để sử dụng làm đường đi là không có cơ sở chấp nhận vì không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh về việc ông B1, bà T1 cho ông T mượn đất.
Vụ án đang được giải quyết thì bà T1 và ông Phú r lưới B40 xung quanh diện tích đất tranh chấp và đào 02 hố trên diện tích đất tranh chấp nên cần buộc bà T1 và ông P phải tháo dỡ hàng rào lưới B40 và lấp đất lại 02 hố mà bà T1, ông P đã đào trên diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ để giao trả đất cho ông T quản lý sử dụng.
Về án phí và chi phí tố tụng: Bản án sơ thẩm chỉ tuyên buộc bà T1 phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng mà không tuyên bà T1 cùng liên đới với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1 phải chịu án phí trong phạm vi di sản của ông B1 để lại là thiếu sót. Đồng thời, bản án sơ thẩm không tính án phí đối với yêu cầu phản tố của bị đơn không được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí là không đảm bảo theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bà T1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm về án phí và cách tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị T1 đảm bảo các nội dung theo quy định tại Điều 272 BLTTDS, đúng thời hạn theo quy định tại điều 273 BLTTDS. Do đó kháng cáo đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bà Trần Thị T1 giữ nguyên kháng cáo, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị T1 nhận thấy:
[2.1] Về diện tích đất tranh chấp: Căn cứ bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất; Mảnh trích đo địa chính 2922-2021, ngày 15/12/2021 của Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên môi trường biển khu vực phía Nam được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 22/12/2021 (gọi tắt là mảnh trích đo 2922-2021, xác định diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
[2.2] Về quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp: Các bên đều thừa nhận ông T đã sử dụng diện tích đất tranh chấp làm lối đi từ năm 2003 đến năm 2021, bà T1 không cho ông T sử dụng mà bà T1 và ông P trực tiếp sử dụng. Quá trình sử dụng ông T đã đổ đất, san lấp phần diện tích đất tranh chấp. Ông T có trồng 01 hàng dâm bụt làm ranh giữa diện tích đất ông B1, bà T1 đang sử dụng hiện nay (phần còn lại của thửa 4746) với diện tích đất tranh chấp. Đến tháng 8 năm 2023, bà T1 và ông Phú p hàng rào dâm bụt, rào xung quanh diện tích đất tranh chấp bằng lưới B40 và đào 02 hố trên diện tích đất tranh chấp. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.3] Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thể hiện bằng 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012: Bà T1, ông B1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1 cho rằng ông B1 không biết chữ nhưng các tài liệu Tòa án thu thập được có văn bản có chữ ký phía trên tên Huỳnh Văn B1 (sổ vay vốn mã KH 7071418530 ngày 20/02/2016, đơn đề nghị tách thửa đất hợp thửa đất ngày 31/5/2019, biên bản về việc vận động người dân hiến đất ngày 13/5/2019, đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/9/1997); các hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất cho Huỳnh Thị Cẩm T2 ngày 20/10/2020, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Anh M1 ngày 10/7/2019, 02 hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Dương Thị Châu L và ông Nguyễn Văn T4 cùng ngày 07/12/2020 đều có chữ ký của ông B1 và được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật. Do đó việc ông B1, bà T1, bà T2, ông P cho rằng ông B1 không biết chữ, không biết các nội dung 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 do ông T cung cấp là không có cơ sở chấp nhận. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/6/2021, bản thân ông B1 thừa nhận có lăn tay vào giấy 08/3/2012, còn đối với giấy mua bán đất ngày 24/4/2003 ông B1 không nhớ có ký tên hay không. Những người làm chứng ông Trương Văn T3, bà Trần Thị Cẩm V (viết hộ giấy ngày 08/3/2012), bà Nguyễn Thị N đều xác định ông T và ông B1 có ký tên vào giấy mua bán đất và khi ký tên vào giấy mua bán đất ông B1 còn khỏe mạnh, chưa có bệnh về mắt. Từ đó có cơ sở để chấp nhận trình bày của ông T về việc ông B1 có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông T diện tích đất ngang 4m x dài hết thửa đất 939 (cũ), hiện nay là một phần thửa 4746 để làm lối đi thể hiện bằng 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012.
[2.4] Ông T cho rằng đã trả đủ 500.000 đồng tiền thỏa thuận chuyển nhượng đất cho ông B1 là phù hợp với lời khai của ông Trương Văn T5 người làm chứng bà Trần Thị Cẩm V về việc bà V ghi hộ giấy mua bán đất ngày 08/3/2012 ghi nhận việc ông T đã trả tiền cho ông B1 và đọc lại cho ông B1 nghe rồi ông B1 ký tên. Do đó có cơ sở chấp nhận lời khai của ông T về việc đã trả đủ tiền cho ông B1 từ năm 2003.
[2.5] Về pháp luật áp dụng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông B1 chưa thực hiện xong nghĩa vụ chuyển quyền cho ông T nên đây là giao dịch đang thực hiện về nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 để áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 giải quyết. Tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông B1 không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng ông T đã trả đủ tiền cho ông B1, ông B1 đã giao đất cho ông T, có hàng rào dâm bụt phân ranh cụ thể để ông B1 đổ đất lên, san lấp làm lối đi từ năm 2003 đến năm 2021 mới phát sinh tranh chấp. Bà T1 không có ký tên trong 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 nhưng bà T1 vẫn sinh sống tại địa phương, bà T1 không có ý kiến và không cung cấp chứng cứ gì về việc đã phản đối ông T sử dụng đất từ năm 2003 đến năm 2021. Bà T1 còn thừa nhận gia đình ông B1 làm hàng rào dâm bụt phân ranh với diện tích đất ông T sử dụng làm lối đi.
Từ các căn cứ trên cấp sơ thẩm công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông B1 là phù hợp với Điều 116 và Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.6] Phía ông B1, bà T1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1 cho rằng cho ông T mượn đất để sử dụng làm đường đi nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh và ông T, bà M không thừa nhận có việc ông B1 cho mượn đất nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà T1 về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông B1 thể hiện bằng 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 là có căn cứ.
[2.7] Vụ án đang được giải quyết thì bà T1 và ông Phú r lưới B40 xung quanh diện tích đất tranh chấp và đào 02 hố trên diện tích đất tranh chấp nên cấp sơ thẩm buộc bà T1 và anh P phải tháo dỡ hàng rào lưới B40 và lấp đất lại 02 hố mà bà T1, anh P đã đào trên diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa 4746 để giao trả đất cho ông T quản lý sử dụng là có căn cứ. Bà T1 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không chấp nhận kháng cáo của bà T1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 31/2023/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng: Bản án sơ thẩm chỉ tuyên buộc bà T1 phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng mà không tuyên bà T1 cùng liên đới những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1 phải chịu án phí và chi phí tố tụng trong phạm vi di sản của ông B1 để lại là thiếu sót. Đồng thời, bản án sơ thẩm không tính án phí đối với yêu cầu phản tố của bị đơn không được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí là không đảm bảo theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm về án phí và cách tuyên.
Lời đề nghị của đại diện viện kiểm sát là có cở sở để chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T1 phải chịu 300.000 đồng theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T1.
Sửa một phần bản án sơ thẩm số 31/2023/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An về án phí và cách tuyên án.
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, khoản 2 Điều 129, Điều 357, Điều 468 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 99, Điều 100, 106 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Huỳnh Văn B1 và bà Trần Thị T1.
- Đông giáp: thửa 893.
- Tây giáp: thửa 4746 phần còn lại.
- Nam giáp: thửa 4758
- Bắc giáp: đường đá xanh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T1 về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Văn B1 theo 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 đối với diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Huỳnh Thị Cẩm T2 phải liên đới chịu số tiền 8.732.000 đồng (tám triệu, bảy trăm ba mươi hai nghìn đồng) để trả lại cho ông Huỳnh Văn T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T1 phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà T1 đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004208 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 02 "giấy mua bán đất" ngày 24/4/2003 và ngày 08/3/2012 giữa ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Văn B1 đối với diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An có tứ cận:
(Độ dài từng cạnh và vị trí tiếp giáp cụ thể theo mảnh trích đo địa chính số 2922-2021 ngày 15/12/2021 của Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên môi trường biển khu vực phía Nam được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 22/12/2021, được đính kèm theo bản án).
Buộc bà Trần Thị T1, ông Huỳnh Tấn P phải: Tháo dỡ hàng rào lưới B40 trụ bê tông đúc sẵn dài 29m x cao 1,5m, lấp 01 hố đào hình tròn đường kính 2,5m x sâu 0,5m, lấp 01 hố đào hình chữ nhật ngang 0,6m x dài 1,6m x sâu 0,6m trên diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa 4746 tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để trả diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M quản lý sử dụng.
Ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đối với diện tích đất 95m² thuộc một phần thửa đất số 4746, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bên được thi hành án làm thủ tục kê khai, đăng ký để được điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi một phần diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà Trần Thị T1 cùng liên đới với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Huỳnh Văn B1 (Ông Huỳnh Tấn P, bà Huỳnh Thị Cẩm T2) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) trong phạm vi di sản của ông B1 để lại. Bà Trần Thị T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà T1 đã nộp theo các biên lai thu số 0001169, 0001170 cùng ngày 07/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M không phải chịu. H lại cho ông T, bà M 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0009192 ngày 11/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Lê Thị Kim Nga | Lê Thị Bích Tuyền | Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 224/2024/DS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 224/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T, bà Phan Thị M về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Huỳnh Văn B1
