Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

Bản án số: 224/2024/HSST

Ngày: 08/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Long.
Ông Nguyễn Văn Hành.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 222/2024/HSST ngày 14/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1987. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện T, Hà Nội. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; T: Không; Giới tính: Nam. Con ông: Nguyễn Đăng M, Con bà: Nguyễn Thị Á; Có vợ Lưu Thị Linh T1 và 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 05/01/2018, bị cáo bị công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 24/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 bộ luật hình sự năm 2015 (Bản án sơ thẩm số 49/2019/HSST, đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024, bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

1

2. Họ và tên: Hoàng Văn D, sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn E, xã Đ, huyện T, Hà Nội. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Hoàng Văn L, Con bà: Phạm Thị Thu H. Nhân thân: Ngày 15/01/2019, bị cáo bị Công an quận N, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác và lôi kéo người khác đánh nhau.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024, hiện đang bị tạm giam ở trại giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1999. Vắng mặt tại phiên toà.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Q, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 22/07/2024, Tổ công tác Công an xã N - Công an huyện T tiến hành kiểm tra hành chính tại khu nhà trọ 05 tầng tại thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội do chị Nguyễn Thị Hương M1 (sinh năm: 1987, địa chỉ: 4 đường Đ, L, Hà Nội) làm chủ, phát hiện tại phòng trọ bên phải cầu thang của tầng 5 của khu nhà trọ có Nguyễn Tuấn T, Hoàng Văn D và chị Nguyễn Thị B (sinh năm: 1999, địa chỉ: Đ Đ, Đ, Q, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra phòng, tổ công tác phát hiện dưới sàn của phòng trọ có 01 gói ni lông, bên trong dính tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận phòng trọ này là do T mới thuê để ở và tinh thể màu trắng dính bên trong gói ni lông là ma túy loại “đá”. T, D và B khai nhận khi T, D và B đang cùng nhau sử dụng ma túy đá thì bị tổ công tác kiểm tra nên T đã vứt 01 gói ni lông bên trong chứa ma túy đá cùng 01 bộ tẩu hút ma túy và 01 bật lửa ra ngoài cửa sổ của phòng trọ. Công an xã N tiến hành dẫn giải các đối tượng rà soát khu vực sân nhà trọ, phát hiện 01 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 bình thủy tinh nắp bình có 02 ống hút bằng nhựa cắm xuyên qua, 01 cóng thủy tinh đã bị vỡ và 01 bật lửa. Các đối tượng khai nhận 01 bình thủy tinh, 01 cóng thủy tinh, 01 bật lửa và 01 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá các đối tượng vừa cùng nhau sử dụng nên Tổ công tác đã thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của T 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 bên trong gắn sim số 0382.647.852 và 0949.099.433; thu giữ của D 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đỏ đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0867.276.095.

2

Tiến hành kiểm tra điện thoại của D và T, phát hiện trong ví điện tử M2 có giao dịch lúc 10 giờ 22 phút cùng ngày 22/07/2024 chuyển số tiền 300.000 đồng từ tài khoản Hoàng Văn D đến tài khoản Momo Nguyễn Tuấn T.

Hồi 18 giờ ngày 22/07/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tuấn T tại thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội, kết quả: Không thu giữ gì.

Hồi 18 giờ 40 phút ngày 22/07/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn D tại thôn E xã Đ, huyện T, Hà Nội, kết quả: Không thu giữ gì.

Ngày 22/07/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu giám định tang vật thu được khi kiểm tra phòng trọ và khi rà soát sân nhà trọ.

Tại bản kết luận giám định số 5476/KL-KTHS ngày 31/07/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,140 gam.

- 01 vỏ túi ni lông, 01 bộ tẩu hút tự tạo (đã bị vỡ) đều có dính ma túy loại methamphetamine.”

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,030 gam Methamphetamine trong tổng số 0,140 gam để làm mẫu giám định, còn lại 0,110 gam Methamphetamine hoàn trả cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T.

Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của Nguyễn Tuấn T, Hoàng Văn D, Nguyễn Thị B, kết quả: T, D, Bích dương T2 với ma túy.

Tại cơ quan CSĐT – Công an huyện T, Nguyễn Tuấn T, Hoàng Văn D khai nhận:

Khoảng 21 giờ ngày 21/07/2024, Nguyễn Tuấn T đi đến khu vực gần Cổng trường THCS xã N, đường T, xã N, huyện T, Hà Nội. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ni lông bên trong chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang túi ma túy vừa mua được về phòng trọ tại thôn T, xã N, huyện T rồi sử dụng một phần. Số ma túy còn lại T vẫn để ở phòng trọ. Khoảng 09 giờ ngày 22/07/2024, Nguyễn Thị B đến phòng trọ của T để chơi. Sau khi B đến, T lấy bộ cóng T đã chuẩn bị từ trước để sử dụng ma túy rồi cho ma túy đá đã mua trước đó vào cóng để sử dụng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Hoàng Văn D gọi điện từ số điện thoại 0867.276.xxx đến số điện thoại 0949.099.xxx của T nói “em có 300.000 đồng, anh chuẩn bị ít đồ đi anh em mình chơi, em đang say quá”. T hiểu rằng D có 300.000 đồng và bảo T đi mua ma túy đá về để cùng sử dụng. T đồng ý và bảo khoảng 30 phút nữa D đi đến phòng trọ của T.

3

Sau đó, T đi đến khu vực đường T (đoạn gần trường THCS xã N, T, Hà Nội), gặp và mua của người đàn ông đã gặp từ tối ngày 21/07/2024 01 túi ni lông chứa ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, T cầm túi ma túy mang về phòng trọ chờ D đến để cùng sử dụng ma túy. Trong lúc chờ D đến, T tiếp tục sử dụng nốt số ma túy đá mua từ tối ngày 21/07/2024. Khi D đi đến phòng trọ thì T đang ngồi sử dụng ma túy đá còn B đang ngồi trong phòng và chưa sử dụng ma túy. D đi vào phòng trọ ngồi cạnh T, lúc này bên trong cóng vẫn còn một ít ma túy đá nên D cầm bình thủy tinh còn T dùng bật lửa châm cho D hút ma túy khoảng vài hơi. Sau khi D hút xong thì D hỏi T là lấy tiền mặt hay chuyển khoản (tiền D góp để mua ma túy). T bảo D chuyển khoản để T chơi điện tử. Do D đang say và cả hai đều đã sử dụng ma túy nên D đưa điện thoại của D cho B để B chuyển khoản cho T. B đã chuyển khoản số tiền 300.000 đồng từ tài khoản Momo của D vào tài khoản Momo của T (B không biết mục đích D chuyển tiền cho T là để góp tiền mua ma túy). Sau khi B chuyển tiền xong thì T lấy túi ni lông bên trong chứa ma túy đá T vừa mua đổ tiếp vào trong cóng để sử dụng. Lúc này, B xin sử dụng ma túy cùng thì T và D không nói gì, cũng không ai phản đối. B ngồi xuống rồi tự lấy bật lửa sử dụng ma túy. D sử dụng ma túy xong thì nằm ngủ, còn T và B ngồi chơi điện thoại. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an xã N đến phòng trọ kiểm tra, do lo sợ nên T đã vứt bình hút ma túy cùng bật lửa và túi ni lông chứa ma túy đá ra ngoài cửa sổ của phòng trọ. Sau đó, B mở cửa cho cơ quan công an vào kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan công an phát hiện trong phòng có 01 túi ni lông dính tinh thể màu trắng là ma túy đá T mua từ tối ngày 21/07/2024. Sau đó, cơ quan công an đã dẫn T, D đi rà soát tại sân của khu nhà trọ, phát hiện 01 túi ni lông chứa ma túy đá, 01 bật lửa, 01 bình hút và các mảnh vỡ của cóng thủy tinh nên cơ quan điều tra đã thu giữ tang vật và đưa T, D và B về trụ sở để giải quyết.

Nguyễn Thị B khai nhận hành vi sử dụng ma túy như đã nêu trên, B không biết nguồn gốc số ma túy của T từ đâu mà có, không biết mục đích D chuyển tiền cho T là để góp tiền mua ma túy, đây là lần đầu tiên B sử dụng ma túy cùng T và D.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị B, ngày 01/10/2024 Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với B theo quy định tại Khoản 1, Điều 23, mục 2, Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do T khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.

4

Đối với chị Nguyễn Thị Hương M1 là chủ nhà trọ và anh Bùi Văn T3 là quản lý nhà trọ cho Nguyễn Tuấn T thuê phòng nhưng không biết việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng nên Cơ quan Điều tra không xử lý.

Đối với 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đỏ đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0867.276.095 thu giữ của Hoàng Văn D; 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0382.647.852 và 0949.099.433, 01 bộ tẩu hút tự tạo bị vỡ, 01 bật lửa, 01 nilong có dính ma tuý thu giữ của Nguyễn Tuấn T đều sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật;

Tại bản cáo trạng:

số 220/ CT-VKS TT ngày 11/10/2024,Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Tuấn T và Hoàng Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 – Bộ luật hình sự năm 2015, sử đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

Các bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Nguyễn Tuấn T và Hoàng Văn D thừa nhận nội dung Bản cáo trạng là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Bị cáo T và D thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn ăn năn hối cải, hứa sẽ sửa chữa và đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn T và Hoàng Văn D về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 – Bộ luật hình sự như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 – Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Tuấn T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2024.
  • Bị cáo Hoàng Văn D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Đề nghị Tòa tịch thu tiêu hủy 01 túi nilong là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 0,110gam, sau khi đã giám định và 01 vỏ túi nilong, 01 bộ tẩu hút tự tạo (đã bị vỡ) đều có dính loại ma túy Methamphetamine và 01 bật lửa ga.

Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu đỏ của bị cáo D và 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu đen thu giữ của T4.

5

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hồi 11 giờ ngày 22/7/2024, tại phòng trọ của khu nhà trọ 05 tầng tại thôn T, xã N, huyện T, Hà Nội, khi Nguyễn Tuấn T, Hoàng Văn D đang tổ chức cho Nguyễn Thị B sử dụng trái phép chất ma túy thì bị tổ Công an kiểm tra, bắt giữ. Số ma túy còn lại bị thu giữ là 0,110 gam ma túy loại Methamphetamine cùng 01 bộ tẩu hút và 01 bật lửa. Đối chiếu pháp luật bị cáo Nguyễn Tuấn T, Hoàng Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 – Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo T có 01 tiền án đã xóa án tích và 01 tiền sự đã hết thời hiệu, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

Bị cáo D có 01 tiền sự đã hết thời hiệu, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự.

Tòa xét thấy các bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhưng coi thường pháp luật, do đó cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục đối với các bị cáo, mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là người không có việc làm thu nhập ổn định và áp dụng hình phạt tù, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu đỏ của bị cáo D và 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu đen thu giữ của T4, các bị cáo dùng vào việc phạm tội, do vậy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,140gam, cơ quan giám định đã sử dụng 0,030 gam Methamphetamine

6

để làm mẫu giám định, còn lại 0,110 gam Methamphetamine. Xét thấy số Methamphetamine đã thu giữ là chất độc hại cấm lưu hành không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ túi nilong, 01 bộ tẩu hút tự tạo (đã bị vỡ) đều có dính loại ma túy Methamphetamine và 01 bật lửa ga, không còn giá trị sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Tuấn T và Hoàng Văn D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn T và Hoàng Văn D.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Tuấn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp ngày 22 /7/2024.

Bị cáo Hoàng Văn D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang ngày 22/7/2024.

Về vật chứng:

căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ:

  • 01 phong bì niêm phong bên ngoài phong bì có chữ ký niêm phong của GĐV Trần Ngọc C, cán bộ Phạm Văn B1 và đối tượng Nguyễn Tuấn T (bên trong có 0.110 gam ma tuý Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 bộ tẩu hút tự tạo bị vỡ) (tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/10/2024);
  • 01 Phong bì niêm phong bên ngoài phong bì có chữ ký niêm phong của GĐV Trần Ngọc C, cán bộ Phạm Văn B1 và đối tượng Nguyễn Tuấn T (bên trong có 01 vỏ túi nilong dính ma tuý Methamphetamine)
  • 01 Bật lửa;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • 01 điện thoại di động Iphone 7 plus bên trong gắn sim số 0867276095, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • 01 điện thoại di Samsung A12 bên trong gắn sim số 0382647852 và 0949099433. Máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

7

(Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2024)

Án phí:

áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điều 20, 22, 26 Nghị Quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quanvắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

Về quyền thi hành án:

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại (nếu có);
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (nếu có);
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Nguyễn Thị Kim Liên

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 224/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn T và Hoàng Văn D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger