|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 224/2024/HS-ST Ngày 30-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
| Thẩm phán: | Ông Vũ Quang Trung |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Ngọc Tân |
| Ông Nguyễn Thanh Hải | |
| Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy |
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 207/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Thị T, sinh ngày 25/02/1969, tại Hòa Bình. ĐKHKTT: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nơi ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/10; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Minh S (đã chết) và bà Đinh Thị N, bị cáo có chồng Đinh Thanh L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giữ từ ngày 13/02/2024 đến ngày 16/02/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Đinh Thị T: Ông Nguyễn Văn C - Luật sư Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 20 phút ngày 06/11/2012 tại khu vực ga D thuộc thôn A, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng, Công an huyện A, thành phố Hải Phòng bắt quả tang Nguyễn Bá P có hành vi vừa nhận 01 bao hàng nghi bên trong có ma tuý từ xe ô tô BKS: 26K-6565 (lái xe là Đinh Thảo N1, sinh năm 1983, trú tại: Tiểu khu Bệnh viện B thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; phụ xe là Lục Văn N2, sinh năm 1991, trú tại: Tổ A phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La).
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Bá P gồm: 01 bao dứa trong có chứa 02 bánh chất bột màu trắng kích thước (15x10x2,5)cm, 01 gói đựng 990 viên nén màu hồng và 10 viên nén màu xanh, 01 xe mô tô BKS 16N4-3563, 01 điện thoại di động và các đồ vật liên quan khác.
Tại bản Kết luận giám định số 525/PC54(MT) ngày 08/11/2012 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 990 viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Bá P là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 91,88 gam; 10 viên nén màu xanh là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 0,95 gam; 02 bánh chất bột màu trắng là ma tuý loại Heroine, có tổng khối lượng 703,12 gam.
Tại Cơ quan điều tra, xét hỏi ban đầu Nguyễn Bá P khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 06/11/2012, Đinh Thị T gọi điện thoại di động cho P nói: “Khoảng 03 giờ chiều ra ga D đón xe ở Sơn La biển số đuôi 65 lấy hộ chị bao su su”, P hỏi T sao không tự ra lấy thì T trả lời “trong bao su su có 02 bánh Heroine và 1000 viên hồng phiến, chị ra lấy sợ lộ, chú đi xe ôm người ở đây ra lấy hộ chị không ai nghĩ”. Vì nể T thời điểm đó đang sống như vợ chồng với anh trai của P nên P đồng ý. T cho P số điện thoại của phụ xe ô tô khách để Phô liên lạc. Khoảng 15 giờ chiều cùng ngày, P điều khiển xe mô tô đến ga D để đón xe ô tô khách Sơn La, khoảng 15 giờ 50 thì xe khách đến, phụ xe ô tô khách chuyển cho P 01 bao dứa màu cam trong có các quả su su, 02 bánh ma tuý Heroine và 1000 viên hồng phiến. Phô trả tiền cước vận chuyển cho phụ xe, sau đó P cầm bao dứa trên đi được khoảng 01m thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Nguyễn Bá P thay đổi lời khai và không thừa nhận có biết bên trong bao dứa mà Đinh Thị T nhờ lấy hộ có ma tuý. P khai T gọi điện thoại cho P nhờ lấy hộ bao quả su su, chỉ khi bị cơ quan Công an bắt giữ, kiểm tra thì P mới biết trong bao dứa đó có chứa ma tuý.
Tại Cơ quan điều tra, Đinh Thảo N1 và Lục Văn N2 khai nhận phù hợp: N1 là lái xe và N2 là phụ xe của xe ô tô khách BKS: 26K-6565 chạy chuyên tuyến tỉnh Sơn La – thành phố Hải Phòng, trên xe ngoài N1 và N2 có thêm 01 phụ xe là Đặng Quý H, sinh năm 1984, trú tại: Tổ D phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La tuy nhiên công việc của anh H chỉ đi theo xe đến tỉnh Hoà Bình thì xuống xe để quay về tỉnh Sơn La. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 06/11/2012 có một phụ nữ khoảng 35 tuổi nhà ở mặt đường Q, thuộc địa phận xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình gửi một bao hàng lên xe và đưa cho phụ xe Đặng Quý H chiếc thiếp có ghi địa chỉ người nhận ở ga D, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng, khi trả hàng thì người nhận sẽ trả tiền cước vận chuyển. Anh H chuyển cho N2 tờ thiếp nêu trên để N2 trả hàng và thu tiền cước, khi đi đến tỉnh Hoà Bình thì anh H xuống xe để quay về tỉnh Sơn La. Khi xe khách dừng ở ga D, Nam trả bao hàng cho một người đàn ông (Nguyễn Bá P) và nhận tiền cước do người này trả, N2 không biết trong bao hàng trên có chứa ma tuý.
Căn cứ lời khai của N1, N2, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra xác minh và xác định Bàn Thị Q, sinh năm 1974, trú tại: xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình là người đã gửi bao hàng lên xe khách nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra, xét hỏi Bàn Thị Q khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 05/11/2012, Đinh Thị T là bạn xã hội của Q có điện thoại nhờ Q sáng hôm sau gửi hộ 01 túi đồ cho người tên C1 ở ga D, thành phố Hải Phòng, Q đồng ý. Khoảng 08 giờ sáng ngày 06/11/2012 có một người đàn ông điều khiển xe mô tô chở 01 bao dứa đến giao cho Q và nói “đây là túi đồ chị T nhờ gửi giúp”. Q không mở ra xem mà để bao hàng ở rìa đường trước cửa nhà Q. Khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày xe khách BKS: 26K-6565 đi hướng tỉnh Sơn La – thành phố Hải Phòng dừng trước cửa nhà Q, Q đã gửi bao hàng và chiếc thiếp có ghi địa chỉ người nhận cho phụ xe. Đến khoảng 07 giờ ngày 07/11/2012 T điện thoại cho Q và nói bao hàng T nhờ Q gửi hộ bên trong có ma tuý đã bị Công an bắt giữ, T dặn Q nếu có ai hỏi thì nói không biết gì.
Tại Bản án số 122/2013/HSST ngày 06/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tuyên phạt Nguyễn Bá P tù chung thân về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý theo điểm h, khoản 4, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Tại Bản án số 830/2013/HSPT ngày 31/12/2013 Toà phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao tuyên giữ nguyên hình phạt đối với Nguyễn Bá P.
Đối với Đinh Thị T, sau khi gây án bỏ trốn, ngày 19/3/2013 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can, Quyết định truy nã và Tạm đình chỉ điều tra bị can đối với T về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Ngày 13/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt giữ được bị can T theo Quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra Đinh Thị T khai nhận: Từ khoảng năm 2005, T có ăn ở và chung sống như vợ chồng với Nguyễn Bá Q1, sinh năm 1959 tại địa chỉ xóm B, thôn K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng đến khoảng cuối năm 2010 T bỏ đi làm tự do, không ở cùng Q1 nữa. Nguyễn Bá P là em trai của Q1 và ở cạnh nhà Q1. Thuỷ thời điểm đó có lưu số điện thoại của P nhưng hiện tại T không nhớ T và P sử dụng số điện thoại nào. Khoảng thời gian P bị bắt (ngày 06/11/2012), T đang ở khu vực tỉnh Gia Lai để làm thuê và phủ nhận việc có nhờ Nguyễn Bá P ra ga D, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng để lấy bao dứa chứa su su và ma tuý. T khai khoảng năm 2004, T có lên huyện M, tỉnh Hòa Bình nấu ăn thuê thì có biết Bàn Thị Q, tuy nhiên T không có quan hệ hay nói chuyện gì với Q. T khẳng định không có liên lạc với Q để nhờ việc gì vào thời điểm P bị cơ quan Công an bắt quả tang.
Tiến hành ghi lời khai của Bàn Thị Q, Q khẳng định các nội dung trước đây với Cơ quan điều tra là đúng sự thật, không bị ép buộc và khẳng định người nhờ Q gửi bao dứa gửi xe khách từ Sơn La về ga D, thành phố Hải Phòng ngày 06/11/2012 chính là Đinh Thị T.
Tiến hành ghi lời khai của Nguyễn Bá P, P giữ nguyên lời khai và khẳng định chính Đinh Thị T là người liên lạc nhờ P nhận bao dứa cơ quan Công an đã thu giữ khi bắt quả tang Phô tại ga D, thành phố Hải Phòng ngày 06/11/2012.
Mặc dù Đinh Thị T không thừa nhận hành vi phạm tội và Nguyễn Bá P thay đổi lời khai trong quá trình tố tụng trước về việc không biết bao dứa T nhờ nhận hộ có chứa chất ma túy; nhưng căn cứ lời khai nhận tội ban đầu của P phù hợp lời khai Bàn Thị Q, Đinh Thảo N1, Lục Văn N2, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định về ma tuý và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở xác định:
Ngày 05/11/2012, Đinh Thị T đã có hành vi nhờ Bàn Thị Q gửi xe khách vận chuyển 01 bao dứa trong chứa tổng cộng 703,12 gam ma tuý loại Heroine và 92,83 gam ma tuý loại Methamphetamine từ tỉnh Sơn La về thành phố Hải Phòng bằng xe khách cho người nhận là Nguyễn Bá P. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 06/11/2012, khi P vừa nhận bao dứa có chứa ma tuý trên thì bị cơ quan Công an bắt quả tang. Do T không thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân và không khai về mục đích chuyển nhận số ma túy trên, nên không xác định được T có mục đích mua bán số ma túy này, do đó chỉ đủ căn cứ xác định hành vi của T là vận chuyển trái phép chất ma túy.
Đối với Bàn Thị Q: Tài liệu điều tra không đủ chứng minh khi Q chuyển bao dứa trên từ tỉnh Sơn La về thành phố Hải Phòng thì Q biết bên trong có ma tuý nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý đối với Q là có căn cứ.
Về vật chứng của vụ án: Các vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra đã được xử lý trong vụ án Nguyễn Bá P phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Tại bản Cáo trạng số 211/CT-VKSHP-P1 ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đinh Thị T về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa:
Ban đầu bị cáo Đinh Thị T không thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo không nhờ Bàn Thị Q gửi bao dứa có chất ma tuý từ Sơn La về Hải Phòng, bị cáo không nhờ Nguyễn Bá P nhận hộ bao dứa tại ga D. Nhưng sau khi công bố lời khai của đối tượng Nguyễn Bá P và Bàn Thị Q cùng các tài liệu xác minh có trong hồ sơ, bị cáo T đã thừa nhận Cáo trạng Viện Kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý là đúng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình xã hội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của đối tượng Nguyễn Bá P, Bàn Thị Q và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Thị T tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Quan điểm của những người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đinh Thị T không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh điều luật truy tố, Luật sư có quan điểm bị cáo đã nhận tội, gia đình có mẹ đẻ tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bản thân bị cáo sức khoẻ yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo T mức án thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Quá trình điều tra và tại phiên toà ban đầu bị cáo không nhận tội, nhưng sau khi công bố lời khai của đối tượng Nguyễn Bá P và Bàn Thị Q cùng các tài liệu xác minh có trong hồ sơ, bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, lời khai của bị cáo Nguyễn Bá P đã bị xét xử trước đó, lời khai của Bàn Thị Q người mà bị cáo nhờ gửi bao dứa có ma tuý từ Sơn La về Hải Phòng và lời khai của Đinh Thảo N1, Lục Văn N2 là người lái phụ xe khách, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ và các kết luận giám định đã đủ căn cứ xác định: Ngày 05/11/2012, Đinh Thị T đã có hành vi nhờ Bàn Thị Q gửi xe khách vận chuyển 01 bao dứa trong chứa tổng cộng 703,12 gam ma tuý loại Heroine và 92,83 gam ma tuý loại Methamphetamine từ tỉnh Sơn La về thành phố Hải Phòng bằng xe khách cho người nhận là Nguyễn Bá P. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 06/11/2012, khi P vừa nhận bao dứa có chứa ma tuý trên thì bị cơ quan Công an bắt quả tang. Do T không khai nhận về mục đích chuyển nhận số ma túy trên, nên không xác định được T có mục đích mua bán số ma túy này, do đó chỉ đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đinh Thị T là vận chuyển trái phép chất ma túy vi phạm Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Ma tuý mà bị cáo Đinh Thị T vận chuyển là 703,12 gam ma tuý loại Heroine và 92,83 gam ma tuý loại Methamphetamine nên hành vi của bị cáo Đinh Thị T đã vi phạm điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy gây nguy hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi vận chuyển ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy. Vì vậy, cần xét xử bị cáo với mức án thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo và gia đình bị cáo có mẹ tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo đã vận chuyển, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, Khối lượng ma tuý bị cáo vận chuyển là 703,12 gam ma tuý loại Heroine và 92,83 gam ma tuý loại Methamphetamine. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tù không có thời hạn mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi Vận chuyển ma túy nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, theo quy định phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Nhưng Hội đồng xét xử xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng thu giữ đã được xử lý tại Bản án số 122/2013/HSST ngày 06/9/2013 khi xét xử bị cáo Nguyễn Bá P nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số hoàn cảnh khó khăn nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12] Các vấn đề khác: Đối với các vấn đề khác liên quan đến vụ án đã được xử lý trong vụ án Nguyễn Bá P phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đinh Thị T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, xử phạt Đinh Thị T tù chung thân. Thời hạn từ tính từ ngày 13/02/2024.
Về án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Thị T.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vận chuyển trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 224/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chung thân
