Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Châu Loan

Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 215/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị T; sinh năm: 1958; tại: tỉnh Thái Bình; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số B đường T, phường V (địa chỉ cũ: Số B đường T, phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số E đường C, phường V (địa chỉ cũ: Số E đường C, phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1 và bà Trần Thị T2; có chồng: Uông Sỹ P và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 19-01-2006 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 21-3-2010); Ngày 06-12-2017 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt phạt 39 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 29-2-2020). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 10-6-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
  2. Họ và tên: Phùng Bích H; sinh năm: 1970; tại: tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C ngõ A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn N và bà Phạm Thị C; có chồng: Cao Mạnh H1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31-5-2024, chuyển tạm giam từ ngày 09-6-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T và Phùng Bích H có mối quan hệ quen biết là hàng xóm của nhau; đầu tháng 5-2024, T thuê H bán ma túy cho khách với giá 100.000 đồng/01 gói ma túy Heroine và 300.000 đồng/01 gói ma túy đá, T trả công cho H 4.000.000 đồng/tháng.

Khoảng 10 giờ ngày 31-5-2024, Tổ công tác Công an phường T, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà B đường V, phường T, thành phố N phát hiện Phùng Bích H điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1- 542.23 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên phải H đang mặc 01 gói ni lông màu đen, bên ngoài buộc dây nịt màu vàng, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước (5x10cm), trong có 32 gói giấy bạc màu trắng, đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu H1 (H khai là Heroine mục đích mang đi bán kiểm lời), niêm phong vỏ ni lông màu đen buộc dây nịt màu vàng ký hiệu là H2. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phùng Bích H và tạm giữ của H 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1- 542.23; 01 chiếc điện thoại di động N1 màu đen, đều đã cũ.

Tại Cơ quan điều tra, Phùng Bích H khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 30- 5-2024, H dùng điện thoại Nokia số thuê bao 0947850444 gọi đến số thuê bao 0852745382 lắp trong điện thoại Iphone của T bảo mang 32 gói Heroine ra đường C, phường T, thành phố N đưa cho H mang đi bán cho khách. Do Tần sức khỏe yếu nên không mang ra được, H hẹn đến sáng ngày 31-5-2024, khi nào Tần đến Bệnh viện Phổi tỉnh N điều trị thì mang ma túy cho H, T đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 31-5-2024, khi T đang điều trị tại Bệnh viện Phổi tỉnh N, địa chỉ A đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định thì H gọi điện cho T để lấy ma túy. T bảo H đứng đợi ngoài cổng Bệnh viện rồi nhờ ông Nguyễn Hữu H2 sinh năm 1962, trú tại căn hộ B C D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội (em trai T) mang đưa cho H 01 gói ni lông màu đen, quấn ngoài bằng dây nịt màu vàng bên trong có chứa 32 gói Heroine, rồi ông H2 quay vào chỗ T (H và ông H2 không trao đổi, không nói chuyện gì và H không biết ông H2 có biết gói Tần đưa là ma túy không, chỉ biết ông H2 là em trai Tần). H cầm gói nilong ông H2 đưa, mở ra thấy có 32 gói Heroine đều bọc giấy bạc màu trắng bỏ vào túi quần bên phải đang mặc sau đó điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1- 542.23 mang đi chưa kịp bán cho khách thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cùng ngày 31-5-2024, Nguyễn Thị T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai của Phùng Bích H, đồng thời khẳng định 01 gói ni lông màu đen, quấn ngoài bằng dây nịt màu vàng chứa 32 gói Heroine nhờ em trai là ông Nguyễn Hữu H2 đưa cho Phùng Bích H ở cổng bệnh viện P thì T không nói cho ông H2 biết. Tần tự giác giao nộp cho cơ quan điều tra chiếc điện thoại di động Iphone, đã cũ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Bích H tại số nhà C ngõ A, phường Q, thành phố N không thu giữ gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị T ở E đường C, phường T, thành phố N thu giữ trong thùng tôn ở khu bếp: 01 túi ni lông màu trắng có 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa 41 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 10 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, 01 túi ni lông bên trong có 07 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (ký hiệu K1); 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 02 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (ký hiệu là K2); 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 23 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (ký hiệu là K3); trong 01 cốc thủy tinh đường kính 6cm, cao 9cm có 03 gói giấy bạc màu trắng (ký hiệu là K4); 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là K5); 01 lọ nhựa cao khoảng 7cm đường kính 4cm có chữ Xylicon bên trong có 06 túi ni lông chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu là K6); 01 cân điện tử màu trắng, đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1035/KL-KTHS ngày 05-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu H1, K1, K2, K3 và K4 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu H1: 1,969 gam; Tổng khối lượng mẫu K1: 5,322 gam; Tổng khối lượng mẫu K2: 0,654 gam. Tổng khối lượng mẫu K3: 1,514 gam. Tổng khối lượng mẫu K4: 0,593 gam.

Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng ký hiệu là K5 và K6 gửi giám định đều là Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu K5: 3,964 gam. Tổng khối lượng mẫu K6: 1,969 gam. Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 đoạn Video trích xuất từ hình ảnh Camera an ninh của Bệnh viện Phổi tỉnh N ghi lại hình ảnh Phùng Bích H gặp ông H2 để phục vụ công tác điều tra.

Bản kết luận giám định số 1242/KL-KTHS ngày 16-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ Video cần giám định.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Thị T khai nhận: Khoảng giữa tháng 5- 2024, T gặp một người phụ nữ tên T3 (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở trong ngõ A, phường Q, thành phố N hỏi mua 5.000.000 đồng Heroine và 5.000.000 đồng ma túy đá. T3 đồng ý, mang số ma túy T đặt mua đến nhà T. Sau đó, T chia số Heroine thành 118 gói nhỏ bọc giấy bạc màu trắng, chia số ma túy đá thành 07 túi ni lông màu trắng, rồi cất toàn bộ số ma túy vào trong thùng tôn để ở khu bếp nhà Tần mục đích bán kiếm lời (nếu bán hết số ma túy mua trên được 13.900.000 đồng, T sẽ lãi 3.900.000 đồng). Do Tần điều trị dài ngày trong Bệnh viện Phổi tỉnh N nên chưa kịp bán cho ai. Ngày 31-5-2024, T lấy 32 gói Heroine bỏ vào trong 01 túi ni lông màu đen, buộc bằng 01 dây nịt màu vàng đưa cho H mang bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan điều tra đã xác minh số thuê bao di động 0852745382 lắp trong điện thoại Nokia của Phùng Bích H và số thuê bao di động 0947850444 lắp trong điện thoại Iphone của Nguyễn Thị T dùng để liên lạc mua bán ma túy.

Cáo trạng số 218/CT-VKS-TPNĐ ngày 19-3-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015; truy tố bị cáo Phùng Bích H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 11 (Mười một) năm đến 11 (Mười một) năm 06 (S) tháng tù.
  • Phạt tiền bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Tuyên bố bị cáo Phùng Bích H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Phùng Bích H từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù.
  • Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1035/KL-KTHS (ký hiệu H1); 01 (Một) túi niêm phong số 1035KL-KTHS (06 mẫu từ K1 đến K6); 01 (Một) túi niêm phong của Công an phường T, thành phố N, ký hiệu H2.
  • - Tịch thu sung và ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ, được niêm phong mã số NS4. 2211280 đã thu giữ của Phùng Bích H và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh đen đã cũ, được niêm phong mã số NS3. 1900961 đã thu giữ của Nguyễn Thị T.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) lọ nhựa đường kính khoảng 4cm, cao khoảng 7cm, trên mặt có chữ Xylitol đã cũ và 01 (Một) cân điện tử màu trắng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T và Phùng Bích H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo Nguyễn Thị T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Phùng Bích H nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo đang bị bệnh thoát vị đĩa đệm cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị T và Phùng Bích H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Thị T và Phùng Bích H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31-5- 2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 31-5-2024; biên bản khám xét ngày 01-6-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 01-6-2024; bản kết luận giám định số 1035/KL-KTHS ngày 05-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 10 giờ ngày 31-5-2024, tại khu vực trước cửa số nhà B đường V, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, Phùng Bích H đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,969 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Khoảng 09 giờ ngày 31-5-2024, Nguyễn Thị T đã có hành vi thuê Phùng Bích H bán trái phép 1,969 gam Heroine cho khách để kiếm lời và khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Thị T tại số nhà E đường C, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N thu giữ 10,052 gam Heroine và 5,933 gam Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lợi bất chính. Căn cứ Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ, tổng khối lượng Nguyễn Thị T mua bán trái phép 02 chất ma túy: 12,021 gam Heroine + 5,933 gam Methamphetamine = 17,954 gam mục đích mục đích bán cho người khác kiếm lợi bất chính thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị T và Phùng Bích H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích kiếm lợi bất chính nên vẫn cố ý thực hiện. Khối lượng Heroine bị cáo Nguyễn Thị T thuê Phùng Bích H bán là 1,969 gam, ngoài ra bị cáo còn tàng trữ tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lợi bất chính là 10,052 gam Heroine và 5,933 gam Methamphetamine. Căn cứ Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02- 2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 251 Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng Nguyễn Thị T mua bán trái phép 02 chất ma túy là: 12,021 gam Heroine + 5,933 gam Methamphetamine = 17,954 gam nên bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Khối lượng Heroin bị cáo Phùng Bích H tàng trữ mục đích bán cho người khác kiếm lợi bất chính là 1,969 gam nên bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự

  1. [3] Về vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này các bị cáo cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm, tuy nhiên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của các bị cáo thấy: Bị cáo Nguyễn Thị T là người chủ mưu đi mua ma túy về nhà cất giữ, chia nhỏ sau đó thuê bị cáo H bán ma túy cho khách để kiếm lợi bất chính nên giữ vai trò thứ nhất; bị cáo Phùng Bích H là người giúp sức, bán thuê cho bị cáo T, được bị cáo T trả công, trên thực tế ngày 31- 5-2024 bị cáo cũng chưa bán được ma túy cho bị cáo T nên xếp vai trò thứ hai.

  1. [4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T và Phùng Bích H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi Phùng Bích H bị bắt, bị cáo Nguyễn Thị T đã ra đầu thú, khi phạm tội bị cáo là người cao tuổi, vì vậy bị cáo Nguyễn Thị T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phùng Bích H có hoàn cảnh khó khăn, bị bệnh đau dây thần kinh tọa trước khi bị bắt đang điều trị theo đơn thuốc của Bệnh viện Công an tỉnh N nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị T và Phùng Bích H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  1. [5] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị T là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã hai lần bị đưa ra xét xử về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị T nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Bích H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Tuy nhiên xét bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng chỉ vì lợi ích vật chất bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

  1. [6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị T tàng trữ ma túy, mục đích bán cho người khác kiếm lợi bất chính, bị cáo Phùng Bích H được Nguyễn Thị T thuê bán ma túy và được trả tiền công vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.

  1. [7] Về xử lý vật chứng:
  • - Số ma túy đã thu giữ gồm: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1035/KL- KTHS (ký hiệu H1); 01 (Một) túi niêm phong số 1035KL-KTHS (06 mẫu từ K1 đến K6); 01 (Một) túi niêm phong của Công an phường T, thành phố N, ký hiệu H2 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ, được niêm phong mã số NS4. 2211280 đã thu giữ của Phùng Bích H và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh đen đã cũ, được niêm phong mã số NS3. 1900961 đã thu giữ của Nguyễn Thị T các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung và ngân sách Nhà nước.
  • - 01 (Một) lọ nhựa đường kính khoảng 4cm, cao khoảng 7cm, trên mặt có chữ Xylitol đã cũ và 01 (Một) cân điện tử màu trắng đã cũ là công cụ bị cáo T dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
  1. [8] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Cơ quan điều tra xác minh đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Thị T ở khu vực ngõ A, phường Q, thành phố N theo lời khai của T nhưng không xác định đối tượng có đặc điểm như T khai nên tách ra điều tra, xử lý sau.

Đối với số ma túy thu giữ tại nhà, T khẳng định không ai biết T tàng trữ ma túy ma túy để bán và những lần T đưa ma túy cho H mang đi bán cho khách, T và H đều không nhớ bán cho ai, thời gian, địa điểm cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với ông Nguyễn Hữu H2 không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị T và Phùng Bích H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không xử lý.

Chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1 - 542.23 là tài sản của chị Uông Kiều M, sinh năm 1999, trú tại E C, phường T, thành phố N (là cháu nội của Nguyễn Thị T), chị M không biết T mượn xe máy đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho chị M.

  1. [9] Về án phí:

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phùng Bích H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy"

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01-6-2024.

    Phạt tiền bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  2. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Phùng Bích H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy"

    Xử phạt bị cáo Phùng Bích H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31-5-2024.

    Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 1035/KL-KTHS (ký hiệu H1); 01 (Một) túi niêm phong số 1035KL-KTHS (06 mẫu từ K1 đến K6); 01 (Một) túi niêm phong của Công an phường T, thành phố N, ký hiệu H2; 01 (Một) lọ nhựa đường kính khoảng 4cm, cao khoảng 7cm, trên mặt có chữ Xylitol đã cũ và 01 (Một) cân điện tử màu trắng đã cũ.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ, được niêm phong mã số NS4. 2211280 đã thu giữ của Phùng Bích H và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh đen đã cũ, được niêm phong mã số NS3. 1900961 đã thu giữ của Nguyễn Thị T.
    • (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 298/YCN/2024, ngày 20-9-2024)
  4. Án phí:
    • - Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
    • - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phùng Bích H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Nguyễn Thị T và Phùng Bích H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 224/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger