Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Huynh;

Ông Nguyễn Việt Chiến.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Sĩ H, sinh năm 1971; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Nguyễn Sĩ H1; Con bà: Nguyễn Thị V; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 6; Vợ: Nguyễn Thị L; Con: 02 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1996. Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 17/03/1995, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử 12 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy, ra trại ngày 04/01/1996 (đã xóa án tích);
  • + Ngày 8/5/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 26/8/2012 (đã xóa án tích);
  • + Ngày 26/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh xử 8 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 19/10/2020 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 01/04/2024, Công an phường M, quận N làm nhiệm vụ trên đường P khi đi đến lối rẽ vào C thể thao Thiếu nhi phát hiện Nguyễn Sĩ H đang điều khiển xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra Nguyễn Sĩ H đã tự nguyện giao nộp 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bộ màu trắng là ma tuý Heroine mua về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác niêm phong tang vật, lập biên bản và dẫn giải đối tượng về trụ sở để đấu tranh làm rõ.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.
  • 01 xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071, số khung: RLCJ5B9409Y066591; số máy: 5B94066593;
  • 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen gắn 01 sim.

* Quá trình điều tra xác định:

Nguyễn Sĩ H là người nghiện ma tuý Heroine nên khoảng 07 giờ ngày 01/04/2024, H đi ra khu vực đường T, M, N, Hà Nội tìm chỗ mua ma tuý để sử dụng. Khi ra khu vực đường T, H gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và hỏi người này mua ma tuý thì anh ta đồng ý và bảo để lại số điện thoại có gì sẽ liên hệ lại. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, có số điện thoại 0584.720.xxx gọi đến số điện thoại 0766.036.xxx của H bảo ra khu vực đường P để nhận ra ma tuý, sau đó H đi xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071 ra khu vực đường P thì được hướng dẫn để số tiền 200.000 đồng dưới gốc cây ở đường P hướng đi M và sẽ thấy 01 gói giấy trong đó có ma tuý Heroine. Sau khi H đến vị trí đặt số tiền 200.000 đồng ở gốc cây như hướng dẫn thì nhìn thấy gói giấy chứa ma tuý sau đó cầm ở tay phải để đi tìm chỗ sử dụng, khi vừa lên xe máy đi được một đoạn thì bị cơ quan Công an kiểm tra và bắt giữ cùng vật chứng. (BL 70-83)

Tại Kết luận giám định số 2513/KLGĐ- PC09 ngày 10/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, xác định:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,181 gam.”

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Sĩ H, cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải rà soát hiện trường, nhân chứng và camera khu vực đường T, M và vị trí H nhận ma túy tại khu vực đường P, M, quận N, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người bán ma túy cho H.

Tiến hành tra cứu số điện thoại 0584.720.xxx xác định chủ thuê bao là chị Hoàng Thị N, sinh năm 1995; HKTT: Đ, Â, Hưng Yên), tuy nhiên chị N không sử dụng số điện thoại trên và không biết số điện thoại trên lại đăng ký tên chị, đồng thời chị không quen biết bị cáo H. Do không rõ nhân thân lai lịch của người bán ma túy cho H nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ.

Xác minh xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071, xác định đăng ký xe mang tên là Nguyễn Thị S (Sinh năm: 1989; HKTT: Đông Cứu, G, Bắc Ninh), tra cứu xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Quá trình điều tra xác định: Chị S là em dâu của Nguyễn Sĩ H, chị S mua và đăng ký xe máy trên từ năm 2010, đến đầu năm 2024 có cho H mượn để phục vụ nhu cầu sinh hoạt đi lại. Việc H sử dụng xe máy đi mua ma túy bị bắt ngày 01/4/2024 chị S không biết.

Ngày 24/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 2898 về việc trao trả cho chị Nguyễn Thị S 01 xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071. Chị S đã nhận lại xe và không đề nghị gì khác.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Sĩ H đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và những tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 182/CT-VKS ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ H từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

Về vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.
  • - Sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen gắn 01 sim;

Về án phí: Căn cứ vào khoản 1, khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với bản kết luận giám định số 2513/KLGĐ - PC 09 ngày 10/4/2024 Công an T ngày của Phòng K Công an thành phố H và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ.

[3] Những chứng cứ trên đây đủ cơ sở xác định: Hồi 13h30 ngày 01/4/2024, tại lối rẽ vào C, đường P, M, N, Hà Nội, Nguyễn Sĩ H điều khiển xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071 cất giấu 01 gói giấy màu trắng chứa 0,181 gam là ma túy loại Heroine mục đích tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường M, quận N phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Sĩ H vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 17/3/1995, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử 12 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy; Ngày 8/5/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 26/8/2012 (Ngày 26/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh xử 8 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 19/10/2020 (đã xóa án tích). Bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm của bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tính giáo dục để cải tạo bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên xét tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Sĩ H, cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải rà soát hiện trường, nhân chứng và camera khu vực đường T, M và vị trí H nhận ma túy tại khu vực đường P, M, N, Hà Nội nhưng không xác định được người bán ma túy cho H.

Tiến hành tra cứu số điện thoại 0584.720.xxx xác định chủ thuê bao là chị Hoàng Thị N, sinh năm 1995; HKTT: Đ, Â, Hưng Yên), tuy nhiên chị N không sử dụng số điện thoại trên và không biết số điện thoại trên lại đăng ký tên chị, đồng thời chị không quen biết bị cáo H. Do không rõ nhân thân lai lịch của người bán ma túy cho H nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ.

Xác minh xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071, xác định đăng ký xe mang tên là Nguyễn Thị S (Sinh năm: 1989; HKTT: Đông Cứu, G, Bắc Ninh), tra cứu xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Quá trình điều tra xác định: Chị S là em dâu của Nguyễn Sĩ H, chị S mua và đăng ký xe máy trên từ năm 2010, đến đầu năm 2024 có cho H mượn để phục vụ nhu cầu sinh hoạt đi lại. Việc H sử dụng xe máy đi mua ma túy bị bắt ngày 01/4/2024 chị S không biết.

Ngày 24/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 2898 về việc trao trả cho chị Nguyễn Thị S 01 xe máy Yamaha Jupiter BKS: 99N1-5071. Chị S đã nhận lại xe và không đề nghị gì khác.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.
  • - Sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen gắn 01 sim;

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng:

Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sĩ H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mép dán có chứ ký của Nguyễn Sĩ H, cán bộ Công an quận N và Giám định viên.
  • - Sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng tình trạng hoạt động của máy).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 251 ngày 17/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

3. Về án phí:

Áp dụng Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 324/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật hình sự: Bị cáo Nguyễn Sĩ H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND TPHN;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Thanh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 224/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Sĩ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ( Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger