Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/HS-PT

Ngày: 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hương

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Bà Trương Thị Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Trang - Thư ký Tòa án tỉnh Thanh Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 293/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Ninh Viết T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo: Ninh Viết T; sinh ngày 20 tháng 5 năm 1985 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ninh Quốc T1 và bà Lê Thị L; Vợ: Đỗ Thị Thu H; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 04/7/2023 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên trong gia đình, hình thức phạt tiền, đã chấp hành.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Ninh Viết T như sau:

Ngày 04/6/2024 Lê Văn T2 đến Công an huyện H đầu thú khai nhận về hành vi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310 màu đen có lắp sim điện thoại số 0334.657.xxx, thông qua tin nhắn SMS để nhận số lô, số đề từ những người chơi gồm: Ninh Viết T, Nguyễn Trọng L1, Đỗ Hữu Đ, Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn N theo hình thức ghi “số lô, số đề”, dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hằng ngày làm căn cứ tính thắng thua để thanh toán tiền cho nhau, cụ thể: “Lô” là hai số cuối của 27 dãy số kết quả của xổ số kiến thiết miền B; “Đề” là hai số cuối trong giải đặc biệt của kết quả xổ số kiến thiết miền B; “Lô xiên 2” là hai cặp số lô trong kết quả của 27 dãy số kết quả xổ số kiến thiết miền B; “Lô xiên 3” là ba cặp số lô trong kết quả của 27 dãy số kết quả xổ số kiến thiết miền B; “Ba càng” là ba số cuối của giải đặc biệt của xổ số kiến thiết miền B; 01 điểm lô có giá 22.000 đồng, nếu trúng 01 điểm lô sẽ được hưởng số tiền là 80.000 đồng; 01 điểm đề có giá 1.000 đồng, nếu trúng thưởng 01 điểm đề thì sẽ được hưởng số tiền là 70.000 đồng; 01 điểm lô xiên và ba càng là 1.000 đồng; nếu trúng thường thì 01 điểm lô xiên 2 thắng gấp 10 lần và 01 lô xiên 3 thắng gấp 40 lần.

Về hình thức đánh bạc: Lê Văn T2 và Ninh Viết T sử dụng điện thoại di động nhắn tin cho nhau để nhận ghi số lô, đề; T và những người chơi khác nhắn tin cho T2 mua các số lô, đề cần đánh, T2 nhắn tin lại “ok” để xác nhận; sau khi có kết quả sổ số miền bắc sẽ lấy đó làm căn cứ để thanh toán cho nhau bằng tiền mặt.

Cụ thể hành vi đánh bạc của bị cáo Ninh Viết T như sau: Vào 17 giờ 50 phút ngày 02/6/2024, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh có lắp sim điện thoại số 0868.135.xxx, nhắn tin SMS đến số thuê bao 0334.657.636 của Lê Văn T2 để ghi số lô, đề với nội dung: “ghi cháu đề kép bằng+kép lệch x 30đ; 060.11.16.27.72.55.77 x 50đ; Hệ 01 x 50đ. 141.191x60đ; 131.070.020.595.292 x 30đ”; T2 đã nhắn tin xác nhận lại với nội dung: “ok”; nghĩa là Ninh Viết T ghi các số đề kép bằng là 10 số đề bao gồm các số 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số 30 điểm; kép lệch là 10 số đề bao gồm những số đề 05, 50, 16, 61, 27, 72, 38, 83, 49, 94 mỗi số 30 điểm; các số đề 06, 60, 11, 16, 27, 72, 55, 77 mỗi số 50 điểm; hệ 01 bao gồm những số đề 01, 10, 06, 60, 56, 65, 51, 15 mỗi số 50 điểm; các số đề 14, 41, 19, 91 mỗi số 60 điểm và các số đề 13, 31, 07, 70, 02, 20, 59, 95, 29, 92 mỗi số 30 điểm.

Đến 17 giờ 54 phút cùng ngày Ninh Viết T tiếp tục nhắn tin SMS cho T2 với nội dung: “ghi cháu lô.78x20đ; 020.121.161.181.070.080.11.21.66.44.88.99x10đ”; T2 nhắn tin xác nhận lại với nội dung: “ok”; nghĩa là Ninh Viết T ghi số lô số lô 78 với 20 điểm và các số lô 02, 20, 12, 21, 16, 61, 18, 81, 07, 70, 08, 80, 11, 21, 66, 44, 88, 99 mỗi số 10 điểm.

Đến 18 giờ 11 phút cùng ngày, T tiếp tục nhắn tin SMS cho T2 với nội dung: “ghi cháu lô 898.868x10đ”; T2 nhắn tin xác nhận lại với nội dung: “ok”; nghĩa là Ninh Viết T ghi các số lô 89, 98, 86, 68 mỗi số 10 điểm.

Tổng số điểm lô và số điểm đề mà Ninh Viết T ghi với Lê Văn T2 là 240 điểm lô và 1940 điểm đề. Như vậy, T ghi số lô với T2 với tổng số tiền là 240 x 22.000 đồng = 5.280.000 đồng và ghi số đề với tổng số tiền là 1940 x 800 = 1.552.000 đồng. Tổng số tiền T ghi lô, đề với T2 là 6.832.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 02/6/2024, xác định Ninh Viết T trúng 90 điểm lô (bao gồm các số lô (12) x 10 điểm, (18) x 10 điểm, (07) x 10 điểm, (70) x 10 điểm, (08) x 10 điểm, (11) x 10 điểm, (66) x 10 điểm, (99) x 10 điểm, (68) x 10 điểm), tương ứng với số tiền 7.200.000 đồng và trúng 30 điểm đề, tương ứng với số tiền 2.100.000 đồng. Cụ thể: 5.280.000 đồng tiền ghi lô + 1.552.000 đồng tiền ghi đề = 6.832.000 đồng; và 7.200.000 đồng tiền trúng lô + 2.100.000 đồng tiền trúng đề = 9.300.000 đồng. Tổng cộng số tiền đánh bạc giữa T và T2 vào ngày 02/6/2024 là: 16.132.000 đồng. Do T2 đang nợ tiền của T nên số tiền T mua đề T2 dùng để trừ nợ cho T, số tiền T trúng lô, đề T2 chưa thanh toán cho T.

Ngoài ra, Lê Văn T2 còn ghi số lô, số đề của một số đối tượng gồm: Đỗ Hữu Đ, Nguyễn Văn D, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn N nhưng số tiền tham gia đánh bạc dưới mức 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính các đối tượng trên.

2. Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 47; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Lê Văn T2.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 47; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Ninh Viết T.

Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T2 và Ninh Viết T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

- Bị cáo Lê Văn T2 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Ninh Viết T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

3. Ngày 23/9/2024 bị cáo Ninh Viết T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố đẻ là thương binh. Tại cấp phúc thẩm bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS, nhưng bị cáo có nhân thân xấu không đủ điều kiện hưởng án treo. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo từ 04 đến 07 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Từ 17 giờ 50 phút đến 18 giờ 11 phút ngày 02/6/2024, Ninh Viết T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh có lắp sim điện thoại số 0868.135.xxx, nhắn tin SMS đến số thuê bao 0334.657.636 của Lê Văn T2 để ghi số lô, đề. Tổng số tiền đánh bạc của Lê Văn T2 và Ninh Viết T là 16.132.000 đồng, trong đó có 6.832.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc và 9.300.000 đồng tiền trúng do việc đánh bạc. Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc Ninh Viết T trừ vào số tiền trước đó Lê Văn T2 đang nợ T, số tiền T trúng lô, đề T2 chưa thanh toán cho T.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Ninh Viết T phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Ninh Viết T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không kháng cáo khiếu nại gì về tội danh đã bị xét xử.

[4]. Xét kháng cáo của bị cáo Ninh Viết T:

Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nộp thêm một số tài liệu gồm: Giấy xác nhận ủng hộ Quỹ vì người nghèo, ủng hộ đồng bào bị bão lụt của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã H, huyện H ngày 20/9/2024; Đơn xin xác nhận của Ninh Viết T, có xác nhận của UBND xã H đều có nội dung xác nhận Ninh Viết T và gia đình thường xuyên tham gia đóng góp, ủng hộ quỹ vì người nghèo, tích cực tham gia các phong trào thiện nguyện, ủng hộ đồng bào bão lụt tại địa phương, nên bị cáo được hưởng thêm thình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và nhiều tình tiết tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp 01 Biên lai thu tiền số 0001783 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá, nội dung: Tự nguyện nộp tiền án phí HSST. Do đó, bị cáo đã nộp xong tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên không xét.

[7]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ninh Viết T.
  2. Sửa Bản án sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt của bị cáo Ninh Viết T như sau:

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Ninh Viết T 08 (T3) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

    Bị cáo đã nộp đủ 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0001783 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - P7, VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Hoằng Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Hoằng Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 224/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger