Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/HS-PT

Ngày: 22/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Vinh

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Long

Ông Bùi Trọng Danh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên:

Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Dương Văn M và Trần Song A do có kháng cáo của các bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo kháng cáo:

  1. Dương Văn M (Tên gọi khác: không), sinh ngày: 04/6/1995 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Thôn V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn N (sinh năm: 1958) và bà: Nguyễn Thị M1 (sinh năm: 1963); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Huỳnh Thị Ngọc B; có 02 con sinh năm 2019 và năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 04.6.2012 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; Ngày 09.8.2012 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; Ngày 08.01.2013 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 20.5.2013 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại tài sản; Ngày 23.6.2013 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; Ngày 13.11.2013 bị UBND thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng; Ngày 04.3.2018 bị UBND huyện H xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; Ngày 16.12.2018 bị Công an quận L xử phạt hành chính về hành vi sử dụng vật liệu nổ; Ngày 30.10.2019 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội cố ý gây thương tích.

    Bị cáo hiện đang bị tạm giam, có mặt.

  2. Trần Song A (Tên gọi khác: không), sinh ngày: 01/11/1996 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: K N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần T (sinh năm: 1958) và bà: Nguyễn Thị B1 (sinh năm: 1960); Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Huỳnh Thanh T1 và có 03 con sinh năm 2023; Tiền án: Ngày 01.7.2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích và Bắt giữ người trái pháp luật (Bị cáo chưa hoàn thành việc bồi thường dân sự); Tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang bị tạm giam, có mặt.

Các bị cáo khác, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 09.3.2023, Phan Văn N1 và Trần Song A ngồi ăn nhậu ở phòng trọ của N1 tại C Đ, P. H, Q. L, TP ., lúc này do hết thức ăn nên N1 lấy xe mô tô (không rõ BKS xe này của khách ăn uống say để nhờ lại quán của N1) chạy đi mua thức ăn. Khi N1 điều khiển xe đi ngang qua quán L tại A N, P. H, Q. L, TP ., N1 quan sát thấy trong quán có một số khách đang ngồi ăn uống có một người có hình dáng giống với một người mà N1 nghi ngờ trước đó có trộm cắp xe của N1 nên N1 dừng xe lại và vào bên trong gây gỗ với người này, nhân viên của quán B3 yêu cầu rời khỏi quán. Do cảm thấy bực tức nên N1 chạy về phòng trọ của mình rủ Trần Song A đi đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn thì A đồng ý, khi đi Trần Song A mang theo một cây kiếm tự tạo dài khoảng 80 cm (cây kiếm này do Anh mua trên mạng xã hội và cất giấu tại phòng trọ của N1 trước đó đã lâu). Khi đến quán L, giữa N, Anh xảy ra xô xát, cải nhau với một số khách và nhân viên quán, N1 nhặt gạch ở phía trước ném vào trong quán L nhưng không gây ra hậu quả thì được chị Phạm Thị Xuân T2 (sinh năm: 1987, trú: K Â, P. H, Q. L, TP . là chị họ của N1) là chủ quán Ố ở bên cạnh quán B3 nhưng N1 tiếp tục cãi nhau với những người này. Lúc này, Đoàn Quốc B2 (sinh năm: 2003, trú: Thôn N, X. B, H. T, T. Quảng N2) là nhân viên quán lẩu Ba N3 cùng một số nhân viên quán L đi đến can ngăn thì giữa hai bên tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, N1 dùng gạch ném về phía B2, B2 đỡ được thì N1 cầm chậu hoa bằng sứ xông đến đánh B2, còn Trần Song A thì dùng kiếm tự tạo xông đến chém trúng vào tay phải của B2 gây xây xát da rồi truy đuổi B2 cùng nhóm nhân viên quán lẩu Ba N3 ra khu vực đường N trước quán L và quán Ố gây mất an ninh trật tự tại khu vực này. Sau đó, Đinh Ngọc S (sinh năm: 1990, trú: 87 T, tổ F, P. H, Q. L, TP . chủ quán L) nhận được thông báo của nhân viên về việc có người gây sự tại quán nên chạy đến xem xét sự việc và điện thoại báo cho cơ quan Công an đồng thời báo cho Dương Văn M (là đồng chủ quán L) đến quán để xem tình hình. Khi Dương Văn M đến quán thấy Công an phường H đang lập biên bản ghi nhận sự việc và biết được N1 đến quậy phá quán, do có quen biết từ trước với N1 nên M đến để nói chuyện, N1 có những lời lẽ chửi bới, thách thức M đánh nhau rồi N1, Anh bỏ đi về lại phòng trọ của N1 và Song A giấu cây kiếm tại phòng trọ N1 rồi bỏ đi.

Đến khoảng 01h30' ngày 10.3.2023, do bực tức việc N1 đến quán M2 còn có lời lẽ thách thức đánh nhau với mình nên Dương Văn M (lúc này đang ở quán N4 - đường P, P. H, Q. L, TP .) sử dụng ứng dụng mạng xã hội Messenger liên hệ với Phan Văn N1 và hẹn đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn tại khu vực đường N, P. H, Q. L, TP ., N1 đồng ý. Sau đó, M nhờ một thanh niên chưa rõ lai lịch đang làm nhân viên thời vụ tại quán N4 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson gắn BKS 43A-534.54 chở M đi đến điểm hẹn, khi lên xe, M lấy ra một cây kiếm tự tạo bằng kim loại dài khoảng 80cm (do M đặt mua trên mạng xã hội và để trên xe ô tô từ trước) rồi đem lên để ngay vị trí ghế phụ của M ngồi. Cùng lúc này một số thanh niên không rõ lai lịch đang có mặt tại quán N4 có quen biết với M nghe thấy việc M nói chuyện điện thoại thách thức đánh nhau nên cũng điều khiển xe mô tô đi theo M. Về phía Phan Văn N1, sau khi nhận lời thách thức đánh nhau với Dương Văn M, N1 lấy cây kiếm bằng kim loại dài khoảng 80 cm do Trần Song A để tại phòng trọ của N1 đi bộ ra khu vực đường N và dừng tại giữa đường N ngay trước khu vực quán K tại F N, P. H, Q. L, TP . để chờ M đến để đánh nhau.

Một lúc sau M và nhóm thanh niên kia đến, M xuống xe nhưng không cầm theo hung khí và quan sát thấy N1 đang cầm hung khí đứng một mình giữa đường N, lúc này thanh niên đi theo M cùng xuống xe cầm theo thanh kiếm tự tạo M mang theo, M lấy cây kiếm trên tay người này rồi đi bộ một mình về phía N1, những thanh niên khác đứng tại vị trí xe ô tô của M không tham gia việc đánh nhau. Lúc này, N1 nhận ra đây là Dương Văn M nên cả hai lao vào đánh nhau, yếu thế nên Nhựt lui lại và cả hai chém về phía nhau thì cây kiếm của M vừa trúng vào kiếm vừa trúng vào vùng mặt của N1 gây thương tích, bị thương nên N1 nằm dưới lòng đường N, lúc này quan sát thấy N1 bị thương nên M không tấn công N1 nữa mà quay lại xe bỏ đi. Cùng lúc này, anh Trần Văn T3 (sinh năm: 1972, trú: X. Đ, H. Đ, T. Quảng N2) đang ở trong quán K tại F N, P. H, Q. L, TP . nghe thấy tiếng ồn ào và đi ra xem, quan sát thấy sự việc, thấy N1 bị thương nên đã cùng vợ của N1 là Phạm Thị Xuân D (sinh năm: 1993) nhờ người đi đường đưa N1 đi cấp cứu. Anh T4 ra lượm được 01 cây kiếm tự tạo dài khoảng 75 cm và giao nộp cho cơ quan chức năng. Sau khi nhận được tin báo, Công an phường H kiểm tra và thu giữ 01 cây kiếm tự tạo dài khoảng 87 cm tại khu vực trước số nhà A N. Sau khi sự việc xảy ra, Dương Văn M bỏ đi khỏi địa phương và trên đường đi thì vứt bỏ cây kiếm tự tạo đã gây thương tích cho N1 tại khu vực tỉnh Quảng Ngãi nên không thu hồi được.

Ngày 11.3.2023, Ủy ban nhân dân phường H có Công văn số 245/UBND về việc đề nghị điều tra, xử lý nghiêm đối với vụ việc nêu trên, do hành vi của các đối tượng đã làm mất an ninh trật tự tại khu vực dân cư, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Ngày 24.11.2023, Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại TP . có Kết luận giám định số 2249/KL-KTHS kết luận Phan Văn N1 bị: Sẹo vùng mặt: 06%, Đứt lệ quản 2 bên đã phẩu thuật, mỗi bên: 03%, tổn thương tháp mũi: 07%, vỡ xoang hàm trái: 07%. Tổng tỉ lệ thương tích là 24% (hai mươi bốn phần trăm).

Với nội dung trên: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

  • - Căn cứ Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn M 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn M 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Song A 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30/9/2024 bị cáo Dương Văn M có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 04/10/2024 bị cáo Trần Song A có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Dương Văn M và Trần Song A giữ nguyên đơn kháng cáo, thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm bởi lẽ, các bị cáo có nhân thân xấu, bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xét xử một mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của các bị cáo gây ra. Tại giai đoạn phúc thẩm, không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của các bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo khai nhận:

Vào tối ngày 09.3.2023, tại khu vực trước quán L số A N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Phan Văn N1 và Trần Song A có hành vi dùng 01 cây kiếm dài khoảng 75 cm, có cán dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại dài 55cm và gạch, chậu hoa đuổi đánh khách và nhân viên cũng như đập phá tài sản, la hét, thách thức tại quán L, từ quán L ra khu vực đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Sau đó khoảng 01h30' ngày 10.3.2023, Dương Văn M và Phan Văn N1 đã thách thức và hẹn gặp nhau tại khu vực đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, M và N1 đều dùng kiếm chạy đến chém vào người nhau, cây kiếm của M vừa trúng vào kiếm vừa trúng vào vùng mặt của N1 gây thương tích. Sau khi chém N1 ngã xuống, bị cáo M không tiếp tục chém N1 mà bỏ đi. Tỷ lệ thương tích của N1 là 24%. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Dương Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS; bị cáo Trần Song A về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[2.] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:

[2.1] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Dương Văn M:

[2.1.1] Đối với tội danh “Cố ý gây thương tích”, HĐXX nhận thấy: Nguyên nhân xảy ra sự việc xô xát, chém nhau gây thương tích giữa bị cáo M và bị cáo N1 là do lỗi nghiêm trọng của bị cáo N1, Song A; do trước đó bị cáo N1 đã vô cớ gây gỗ với khách tại quán L do bị cáo M làm chủ, sau đó N1 quay về rủ thêm bị cáo Song A mang theo hung khí là kiếm tự tạo và gạch đá đến ném, phá, gây rối loạn, huỷ hoại tài sản và gây gỗ đánh khách, nhân viên của quán L. Sau khi sự việc gây rối tại quán chấm dứt, bị cáo N1 tiếp tục có những lời lẻ thách thức, khiêu khích bị cáo M dẫn đến bị cáo M bị kích động bởi hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của bị cáo N1, Song A nên mới gọi điện thoại hẹn N1 để giải quyết mâu thuẩn; bị cáo N1 là người chủ động hẹn địa điểm, chuẩn bị hung khí là kiếm tự tạo đứng chờ sẵn bị cáo M. Khi đánh nhau, cả bị cáo M và bị cáo N1 đều tương quan lực lượng, cùng dùng hung khí nguy hiểm để chém, gây sát thương vào người nhau, thương tích của N1 là do khi chém nhau, kiếm của M vừa trúng vào kiếm vừa trúng vào vùng mặt của N1 gây thương tích. Sau khi gây thương tích cho người bị hại, bị cáo đã chủ động bồi thường toàn bộ thiệt hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, HĐXX nhận thấy có căn cứ để áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo M; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo M mức hình phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có phần nghiêm khắc, chưa xem xét đến dấu hiệu có lỗi của bị hại, nên HĐXX giảm cho bị cáo M một phần hình phạt, áp dụng khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.

[2.1.2] Đối với tội danh “Gây rối trật tự công cộng”: Đây là hậu quả kéo theo từ hành vi thách thức, chuẩn bị hung khí là 2 cây kiếm tự tạo, hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn của bị cáo M và bị cáo N1 vào lúc đêm khuya, dẫn đến gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hậu quả của vụ việc là M đã dùng kiếm gây thương tích cho N1 tỷ lệ 24%. Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo M phạm tội theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS tức là “Dùng vũ khí, hung khí...” để gây rối trật tự công cộng là có căn cứ. Tuy nhiên, xét mục đích bị cáo M chuẩn bị hung khí là để hẹn đánh nhau giải quyết mâu thuẩn với bị cáo N1, tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” này đã được xem xét là tình tiết định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo M về tội “Cố ý gây thương tích”” nhưng đồng thời cũng được xem xét là tình tiết định khung hình phạt của tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với bị cáo M. Nguyên nhân bị cáo M phạm tội đều xuất phát từ lỗi của nạn nhân là bị cáo N1, khiến bị cáo M bị kích động; khi hẹn gặp bị cáo N1, bị cáo M chỉ đi một mình cùng với nhờ lái xe dịch vụ G đến đường N để gặp N1, không có căn cứ xác định những đối tượng chạy theo bị cáo M là do M yêu cầu hay nhờ giúp đỡ; thời gian bị cáo M gây rối trật tự diễn ra trong thời gian rất ngắn, chỉ diễn ra tại đoạn đường N. HĐXX nhận thấy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng của bị cáo M phải thấp hơn hai bị cáo N1, Song A và có căn cứ để áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo M. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo M mức hình phạt 2 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có phần nghiêm khắc, nên HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS giảm cho bị cáo M một phần hình phạt về tội này.

[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Song A về việc xin giảm nhẹ hình phạt, HĐXX nhận thấy: Hành vi của bị cáo đã là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an cho người dân địa phương, Bị cáo chuẩn bị hung khí để cùng bị cáo N1 đến gây rối, phá phách tài sản của người khác, ảnh hưởng đến việc kinh doanh buôn bán của người dân tại khu vực gây rối. Bị cáo nhân thân xấu, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để có cơ sở xem xét yêu cầu kháng cáo. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng và mức án 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Với những lập luận, phân tích nêu trên HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo M, giảm một phần hình phạt, sửa bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Song A, giữ nguyễn bản án sơ thẩm về tội danh cũng như mức hình phạt đối với bị cáo Song A.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bị cáo M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Song A phải chịu án phi hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Dương Văn M; Sửa Bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo Dương Văn M.

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,e,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn M 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm e, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn M 01 (Một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình pạt của cả hai tội, buộc bị cáo Dương Văn M phải chấp hành hình phạt là 03 (Ba) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 23/7/2024.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự

    Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Song A; Giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo Trần Song A.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Song A 02 (H) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Trần Song A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

    Bị cáo Dương Văn M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSND quận Liên Chiểu,
  • - Công an quận Liên Chiểu;
  • - HSNV - Công an TP Đà Nẵng;
  • - TAND quận Liên Chiểu;
  • - THA DS quận Liên Chiểu
  • - Sở Tư pháp TP Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Hữu Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 224/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger