Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/7/2024.

Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm, bà Nguyễn Thị Bích Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 259/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 195/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1992. ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T1 (tên khác: Nguyễn Quốc T2), sinh năm 1991. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  • Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Quốc T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 31/5/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế và xử lý các vấn đề của cuộc sống. Từ năm 2019 đến nay, anh T1 đi lao động tại Nhật Bản. Thời gian đầu vợ chồng vẫn thường liên lạc, gọi điện cho nhau nhưng vì có mâu thuẫn từ trước và lại sống xa nhau nên không tin tưởng nhau dẫn đến tranh chấp, cãi vã làm tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Hai bên gia đình nhiều lần góp ý, động viên nhưng vợ chồng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn và ngày càng ít liên lạc với nhau hơn. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh T1.

Chị và anh T1 có 03 con chung là Nguyễn Thị Kim N- sinh ngày 22/5/2011, Nguyễn Thu H- sinh ngày 17/9/2012 và Nguyễn Thành Đ- sinh ngày 26/3/2019. Kể từ khi anh T1 đi lao động tại Nhật Bản đến nay thì các cháu vẫn luôn ở cùng bố mẹ anh T1. Do tính chất công việc thường xuyên phải tăng ca, nhiều khi phải làm cả ca đêm nên chị chưa có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng các con. Chị đề nghị Tòa án giao cả ba con cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Quốc T3 sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu trong thời gian anh T1 không có mặt ở Việt Nam. Chị và anh T1 tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quốc T3 (bố đẻ của anh T1) trình bày: Năm 2019, anh T1 và chị T đi lao động tại Nhật Bản. Do không đảm bảo sức khỏe nên khoảng 03 tháng sau thì chị T về Việt Nam sinh sống nhưng không về ở với gia đình ông mà về nhà bố mẹ đẻ ở. Do anh T1 và chị T không nói chuyện nên ông không biết giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn gì hay không. Anh T1 và chị T có 03 con chung là Nguyễn Thị Kim N- sinh ngày 22/5/2011, Nguyễn Thu H- sinh ngày 17/9/2012 và Nguyễn Thành Đ- sinh ngày 26/3/2019. Từ năm 2019 đến nay thì cả ba cháu vẫn luôn ở cùng ông và do ông chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T1 vẫn thường xuyên gọi điện thoại cho ông nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 ở Nhật Bản nên không có thông tin để cung cấp cho Tòa án. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay anh T1 và đã thông báo cho anh T1 biết. Anh T1 nói với ông rằng vợ chồng sống ly thân đã lâu, không có biện pháp đoàn tụ nên anh nhất trí ly hôn chị T và đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung. Anh T1 tự nguyện không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Vì vậy ông đề nghị Tòa án chấp nhận cho anh T1, chị T được ly hôn và giao ba con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông nhất trí thay anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng các con trong thời gian anh T1 không có mặt ở Việt Nam.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Lê Thị T ly hôn anh Nguyễn Quốc T1. Giao ba con chung là Nguyễn Thị Kim N- sinh ngày 22/5/2011, Nguyễn Thu H- sinh ngày 17/9/2012 và Nguyễn Thành Đ- sinh ngày 26/3/2019 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Tạm giao cháu N, cháu H, cháu Đ cho ông Nguyễn Quốc T3 chăm sóc trong thời gian anh T1 không có mặt ở Việt Nam. Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

[1.1] Anh Nguyễn Quốc T1 đang sinh sống tại Nhật Bản. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của anh T1 ở thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Quốc T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 31/5/2011. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Chị T cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế và xử lý các vấn đề của cuộc sống. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay và không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện chị T xin ly hôn anh T1, anh T1 xác định vợ chồng không có biện pháp đoàn tụ và nhất trí ly hôn chị T. Vì vậy xác định hôn nhân giữa chị T với anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị T được ly hôn anh T1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị T và anh T1 có ba con chung là Nguyễn Thị Kim N- sinh ngày 22/5/2011, Nguyễn Thu H- sinh ngày 17/9/2012, Nguyễn Thành Đ- sinh ngày 26/3/2019. Chị T xác định chưa có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Anh T1 đề nghị được nuôi dưỡng cả ba con chung và cháu N, cháu H đều có nguyện vọng được ở cùng anh T1. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cả ba con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Anh T1 ủy quyền cho ông T3, ông T3 nhất trí nhận ủy quyền của anh T1 về việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con trong thời gian anh T1 không có mặt tại Việt Nam là tự nguyện nên được chấp nhận. Các đương sự không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Quốc T1 (tên khác: Nguyễn Quốc T2).
  2. Về nuôi con chung: Giao ba con chung là Nguyễn Thị Kim N- sinh ngày 22/5/2011, Nguyễn Thu H- sinh ngày 17/9/2012 và Nguyễn Thành Đ- sinh ngày 26/3/2019 cho anh Nguyễn Quốc T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên.

    Tạm giao các cháu Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thu H, Nguyễn Thành Đ cho ông Nguyễn Quốc T3 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Nguyễn Quốc T1 không có mặt ở Việt Nam.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0000704 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
  4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Hồng Khê, huyện Bình Giang,
  • tỉnh Hải Dương (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 224/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn anh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger