Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 224/2024/DS-PT

Ngày: 09/5/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

là lối đi chung; Yêu cầu hủy

GCNQSDĐ”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt Hà;

Ông Đặng Đình Lực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Phan Diệu Nhân, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DSST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo., kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4763/2024/QĐPT-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1952, có mặt;

    Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1962, có mặt;

    Cùng địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S, ông X: Luật sư Đặng Văn C và Luật sư Nguyễn Thị Minh T, Công ty L4, Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số A ngõ A, phố Y, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt;

  2. Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Địa chỉ: Thị trấn Y huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.
    2. Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Địa chỉ: Xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.
    3. Cụ Lê Văn G (bố đẻ ông K), sinh năm 1939, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    4. Cụ Trịnh Thị Đ (mẹ đẻ ông K), sinh năm 1940, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    5. Bà Kiều Thị L (vợ ông K), sinh năm 1962, có mặt;
    6. Chị Lê Thị Tường V (con ruột ông K), sinh năm 1992, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    7. Anh Lê Minh C1 (con ruột ông K), sinh năm 1997, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    8. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1948, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    9. Bà Trịnh Thị L1 (vợ ông S), sinh năm 1957, có mặt;
    10. Anh Nguyễn Huy L2 (con ruột ông S), sinh năm 1987, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    11. Chị Nguyễn Thị H (vợ anh L2), sinh năm 1983, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    12. Cháu Nguyễn Huy T1 (con ruột anh L2), sinh năm 2013, vắng mặt;
    13. Cháu Nguyễn Linh C2 (con ruột anh L2), sinh năm 2016, vắng mặt;
    14. Cháu Nguyễn Huy H1 (con ruột anh L2), sinh năm 2018, vắng mặt;
    15. Người đại diện hợp pháp của các cháu T1, C2 và H1 là: Anh Nguyễn Huy L2 và chị Nguyễn Thị H, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    16. Bà Đặng Thị T2 (vợ ông X), sinh năm 1963, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    17. Anh Nguyễn Thành Đ1 (con ruột ông X), sinh năm 1996, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    18. Chị Nguyễn Thị T3 (vợ anh Đ1), sinh năm 1996, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    19. Anh Nguyễn Văn H2 (con ruột bà N), sinh năm 1974, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    20. Chị Nguyễn Thị N1 (vợ anh H2), sinh năm 1983, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    21. Cháu Nguyễn Thị L3 (con ruột anh H2), sinh năm 2007, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    22. Cháu Nguyễn Thị Vân A (con ruột anh H2), sinh năm 2010, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    23. Cháu Nguyễn Thị Thu T4 (con ruột anh H2), sinh năm 2015, có đơn xin xét xử vắng mặt;
    24. Người đại diện hợp pháp của các cháu L3, A và T5 là: Anh Nguyễn Văn H2 và chị Nguyễn Thị N1.Đều cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30/11/2018 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn là ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn S và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S, ông X là ông Đặng Văn C trình bày:

Theo ông Đặng Văn C và ông Nguyễn Văn S thì gia đình ông S được quyền sử dụng thửa đất số 304, tờ bản đồ số 02, diện tích 307m² (trong đó có 200m² đất ở, 107m² đất vườn); địa chỉ: Khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K321836 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 30/9/2001, đứng tên ông S. Nguồn gốc thửa đất là của cụ Nguyễn Văn P (bố đẻ ông S, đã chết năm 2015) để lại cho vợ chồng ông S. Thửa đất có các chiều cạnh tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp đường ngõ xóm (đang xảy ra tranh chấp với hộ gia đình ông K);

Phía Nam giáp đất hộ ông H3, ông C3;

Phía Đông giáp đất hộ ông K (cụ Đ, cụ T6);

Phía Tây giáp đường ngõ xóm.

Ranh giới đất của gia đình ông S và lối đi đang xảy ra tranh chấp là bức tường bao loan (có mở cổng phụ) và tường nhà ở của gia đình ông S (xây trên nền móng nhà cũ của cụ P để lại), có phần mái nhà, cửa sổ nhà ở khi mở, cục nóng điều hòa nhiệt độ và cánh cổng sắt cổng phụ khi mở làm le ra không gian lối đi đang tranh chấp.

Theo ông Đặng Văn C và ông Nguyễn Văn X, gia đình ông X được quyền sử dụng thửa đất số 276, tờ bản đồ số 02, diện tích 188m²; địa chỉ: Khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K857751 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 30/9/2001 đứng tên ông X. Nguồn gốc thửa đất là của cụ Nguyễn Văn P1 (bố đẻ ông X, đã chết năm 1995) và cụ Kiều Thị Q (mẹ đẻ ông X, đã chết năm 2005) để lại cho vợ chồng ông X. Thửa đất có các chiều cạnh tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp đường ngõ xóm;

Phía Nam giáp đường ngõ xóm (đang xảy ra tranh chấp với hộ ông K);

Phía Đông giáp đất hộ bà N;

Phía Tây giáp đường ngõ xóm.

Ranh giới đất của gia đình ông X và lối đi đang xảy ra tranh chấp là bức tường bao loan (có mở cổng phụ) và tường nhà ở, công trình phụ của gia đình ông X, có phần mái nhà làm le ra không gian lối đi đang tranh chấp.

Theo ông C, ông S, ông X: Diện tích đất lối đi đang tranh chấp giáp phía Bắc đất của hộ ông S và giáp phía Nam đất của hộ ông X do 04 hộ gia đình, gồm: Ông S, ông X, bà N và ông K sử dụng chung từ mấy chục năm nay.

Năm 2010, hộ ông K làm cổng bằng phên tre tại đầu ngõ bịt lối đi chung nhưng không lắp khóa nên hộ ông S, ông X, bà N không phản đối gì. Năm 2012, ông K lắp cổng sắt và khóa lại, ông S, ông X có ý kiến thì ông K có đưa cho các ông chìa khóa để sử dụng chung. Tuy nhiên, sau đó gia đình ông K thay ổ khóa.

Đầu năm 2018, gia đình ông S xây dựng lại nhà ở, đã sử dụng lối đi chung đó để vận chuyển vật liệu xây dựng thì bị gia đình ông K ngăn cản không cho sử dụng và tuyên bố đó là lối đi của riêng gia đình ông K. Rất nhiều lần, các gia đình ông S, ông X yêu cầu ông K tháo dỡ cổng sắt, trả lại lối đi chung nhưng ông K không thực hiện. Ông S, ông X đã nhiều lần làm đơn đến Ủy ban nhân dân xã Y và Ủy ban nhân dân huyện Y yêu cầu nhưng không được giải quyết triệt để. Vì vậy, ông S, ông X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận diện tích đất theo kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định do Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc tiến hành ngày 13/3/2021 là 37,8m². Cụ thể các chiều cạnh tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp đất hộ ông X, bà N (đoạn 2,3,4,5, 6) có chiều dài lần lượt, cạnh 2-3 = 9,06m, cạnh 3-4 = 6,22m, cạnh 4-5 = 3,81m, cạnh 5-6 =1,83m;

Phía Nam giáp đất hộ ông S (đoạn 1-19) dài 18,85m;

Phía Đông giáp đất hộ ông K (đoạn 6,7,8,19,6) có chiều dài lần lượt cạnh 6-7 = 0,65m, cạnh 7-8 = 0,58m, cạnh 8-19 = 2,88m;

Phía Tây giáp đường ngõ xóm (đoạn 1-2) dài 1,67m

Là lối đi chung của 04 hộ gia đình ông S, ông X, bà N và ông K.

Buộc hộ gia đình ông Lê Văn K phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi chung cho 04 hộ gia đình cùng sử dụng.

Bị đơn là ông Lê Văn K trình bày:

Về nguồn gốc đất gia đình ông đang ở, theo bản đồ 299 thuộc thửa số 210, diện tích 240m² là của 02 cụ cố Trịnh Văn T7 và Nguyễn Thị C4 (là ông, bà ngoại ông K, cả 02 cụ cố đều đã chết từ lâu). Cụ cố T7 và cụ cố C4 sinh được 03 người con là ông Trịnh Văn Đ2 (chết năm 17 tuổi, chưa có vợ, con); bà Trịnh Thị T8 (chết năm 2018) và bà Trịnh Thị Đ (mẹ đẻ ông K). Tại Bản án số: 01 ngày 10/8/1984 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú (cũ) đã giải quyết vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế đối với thửa đất của cụ cố T7, cụ cố C4 để lại và đã quyết định: Giao cho cụ Trịnh Thị T8 và cụ Trịnh Thị Đ được sở hữu ngôi nhà 3 gian trên thửa đất 10 thước có cả diện tích lối đi tại thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phú, có phía Đông giáp đất ông S1; phía Nam giáp đất ông G1, ông P2; phía Tây giáp đất ông P; phía Bắc giáp đất ông B.

Khoảng từ năm 1984 đến năm 1996, vợ chồng ông ở trên thửa đất của cụ T8, cụ Đ (Do 02 cụ cho mượn); năm 1996, vợ chồng ông thuê đất 5% của Ủy ban nhân dân xã Y làm trang trại nên đã xây dựng nhà, công trình để ở trên đất trang trại cho đến nay, còn nhà ở trên thửa đất của cụ T8, cụ Đ vợ chồng ông cho bà Lê Thị S2 (em ruột ông) và anh Nguyễn Văn H4 (con ruột bà S2) mượn để ở từ năm 2006 cho đến nay.

Quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước; năm 1996 gia đình ông cải tạo nâng mặt bằng, lát gạch toàn bộ lối cổng đi từ nhà ông ra đến đầu ngõ; năm 2002 ông làm cổng sắt. Việc cải tạo mặt bằng, lát gạch lối đi và làm cổng, các hộ gia đình ông S, ông X đều biết nhưng không ai có ý kiến gì và cũng không có tranh chấp gì với các hộ liền kề khác, nên gia đình ông vẫn sử dụng làm lối đi riêng.

Tháng 3/2018, ông S làm đơn đề nghị về việc gia đình ông lát gạch và làm cổng sắt trên phần đất là lối đi chung của các hộ liền kề và được Ủy ban nhân dân xã Y (viết tắt là UBND xã) tiến hành giải quyết. Tại công văn số: 17/HC-UBND, ngày 29/5/2018 UBND xã xác định lối đi đó là lối đi chung của 04 hộ gia đình, gồm: Gia đình ông; ông S, ông X và bà N. Việc xác định như vậy là sai, ông không đồng ý nên ông đề nghị UBND xã xem xét, giải quyết.

Cùng thời điểm UBND xã giải quyết tranh chấp lối đi theo đơn của ông S, gia đình ông mới biết thửa đất số 210, diện tích 240m² của cụ T8, cụ Đ cho vợ chồng ông mượn đã được Ủy ban nhân dân huyện Y (viết tắt là UBND huyện) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/9/2001 đứng tên ông (Lê Văn K) và thuộc thửa đất số 303, tờ bản đồ 02, diện tích 210m². Ông xác định việc này là do UBND xã tự làm thủ tục cho ông, ông và cụ T8, cụ Đ đều không biết.

Năm 2018, sau khi gia đình ông S hoàn thiện nhà ở, ông S thuê thợ đổ bê tông khoảng 1 đến 2m³ lên phần lối đi chung (đường dân sinh) tại vị trí trước cổng của gia đình ông S và vị trí liền kề diện tích lối đi đang tranh chấp, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc đi lại của gia đình ông (làm lối đi bị trũng thấp, không thoát được nước khi trời mưa), nên ông làm đơn đề nghị U. Vào các ngày 17, 18, 19/7/2018, UBND xã tiến hành lập biên bản làm việc, ra thông báo về việc tháo dỡ phần bê tông đã đổ trên đất đường giao thông, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và ra quyết định cưỡng chế đối với gia đình ông S nhưng không thành. Lý do vì sao, ông không nắm được, vì ông chỉ làm đơn yêu cầu, còn kết quả giải quyết cụ thể thế nào ông không hỏi.

Diện tích lối đi đang tranh chấp được phân định ranh giới bởi tường nhà ở, công trình phụ, tường rào bao loan của gia đình ông S, ông X, bà N và gia đình ông xây dựng. Đối với tài sản là phần mái nhà, cửa lách, cục N2 được làm le và mở ra lối đi đang tranh chấp...do gia đình ông S làm và lắp vào năm 2018 (sau khi xảy ra tranh chấp). Đối với tài sản nhà ông X thì cửa lách cũng được mở vào năm 2018 (sau khi xảy ra tranh chấp), còn mái nhà ở và mái tôn công trình làm le và mở cửa sổ ra phần lối đi đang tranh chấp được làm từ thời gian nào ông không nắm được.

Kể từ khi xảy ra tranh chấp lối đi (Năm 2018), các hộ ông S, ông X không cho gia đình ông sửa chữa, cải tạo, nên hiện trạng lối đi này đang bỏ hoang, cỏ dại mọc um tùm và cũng từ năm 2018 cho đến nay, gia đình ông và mẹ con bà S2 không sử dụng lối đi này (lối đi đang tranh chấp) mà sử dụng lối cửa lách xuống nhà, đất của bố mẹ đẻ ông là cụ G, cụ Đ ở thửa đất liền kề để đi ra đường dân sinh.

Nay ông S, ông X yêu cầu gia đình ông phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi cho 04 hộ cùng sử dụng chung. Ông đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S, ông X, vì căn cứ vào Bản đồ 299, Sổ giải thửa kiêm thống kê ruộng đất cũng như các biên lai thu tiền thuế của gia đình ông đã nộp đều thể hiện diện tích đất của gia đình ông là 240m², nghĩa là bao gồm cả lối đi đang tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là cụ Trịnh Thị Đ trình bày:

Về quan hệ thân nhân, nguồn gốc thửa đất, việc chia thừa kế thửa đất, thời gian cụ Trịnh Thị T8 (chị ruột cụ) cho vợ chồng ông K, bà L ở trên thửa đất và quá trình sử dụng đất, kiến thiết xây dựng tài sản trên đất như ông K trình bày.

Từ khi được chia thừa kế đất đến nay, cụ và cụ T8 chưa tặng cho hoặc chuyển nhượng cho ai thửa đất trên. Tuy nhiên, theo Công văn số 17/HC-UBND, ngày 29/5/2018 của UBND xã Y lại xác định diện tích đất của cụ và cụ T8 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lê Văn K. Theo cụ, ông K không tự ý đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vợ chồng cụ cũng không nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông K. Vì vậy, cụ yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K321755 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp năm 2001 cho ông Lê Văn K, đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ 02, diện tích 210m² tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và hủy một phần Quyết định số 528/QĐ-UB, ngày 13 tháng 11 năm 2001 của Chủ tịch UBND huyện Y về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho chủ sử dụng đất tại xã Y đối với việc cấp giấy chứng nhận cho ông Lê Văn K, còn việc có yêu cầu ông K phải trả lại thửa đất nêu trên hay không cụ sẽ tự giải quyết với ông K, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện Y, người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn H4 trình bày:

Về quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ số 02, diện tích 210m² đứng tên ông Lê Văn K là đúng quy định của pháp luật, vì: Qua kiểm tra hồ sơ, sổ sách còn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã Y cho thấy năm 2001, UBND xã Y thực hiện chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho các hộ dân trong toàn xã, trong đó có hộ ông Lê Văn K. Ông K là người kê khai và viết tên vào mục chủ sử dụng đất trong đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Sau khi UBND xã Y gửi hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân; UBND huyện giao cho phòng Địa chính (nay là Phòng T10) thẩm định và trình UBND huyện ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Y đã bàn giao toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ủy ban nhân dân xã Y để trả cho các hộ dân trong xã.

Theo bản đồ và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn K thể hiện, lối cổng đi vào đất nhà ông K là lối đi chung của các hộ dân có đất liền kề.

Thửa đất số 303, tờ bản đồ 02, diện tích 210m² tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc do ông K đang sử dụng có nguồn gốc là của cụ cố Nguyễn Thị C4. Cụ cố C4 là mẹ đẻ của cụ Trịnh Thị T8 và cụ Trịnh Thị Đỗ . Cụ Đ là mẹ đẻ của ông K. Năm 1984, thửa đất của cụ cố Cạnh được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lạc (cũ) chia thừa kế cho cụ T8 và cụ Đ, nhưng gia đình ông K là người trực tiếp sử dụng cho đến nay. Như vậy, xét về nguồn gốc thửa đất, quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn K phải thực hiện theo bản án chia thừa kế năm 1984. Cụ Đ yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông K và hủy một phần Quyết định số 528/QĐ-UB ngày 13 tháng 11 năm 2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y, về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho chủ sử dụng đất tại xã Y đối với trường hợp cấp cho ông Lê Văn K, UBND huyện Y Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, nếu Tòa án xem xét đến việc hủy một phần Quyết định số 528 là không cần thiết, vì chỉ cần Tòa án tuyên bố hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân huyện Y sẽ làm thủ tục để thu hồi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn K. Tư cách của chủ sử dụng đất sẽ chấm dứt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã Y, người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn H5 trình bày:

Về diện tích thửa đất đứng tên ông Lê Văn K có nguồn gốc và việc Tòa án đã chia thừa kế đất như đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Y trình bày, nhưng việc Toà án chia thừa kế cụ thể ra sao UBND xã Y không biết. Sau khi cụ cố Cạnh chết, cụ T8 không có thời gian nào ở vào thửa đất trên mà do gia đình ông K (gồm vợ chồng, các con, bố mẹ đẻ ông K) trực tiếp sử dụng và hàng năm do ông K nộp thuế đất.

Căn cứ vào hồ sơ địa chính lưu trữ tại UBND xã Y, thể hiện: Thửa đất số 210, tờ bản đồ 299, có các chiều cạnh giáp ranh như sau: Phía Đông giáp đất ông S1; phía Nam giáp đất ông G1, ông P2; phía Tây giáp đất ông P (nay là đất ông S); phía Bắc giáp đất ông B, bà N. Bản đồ địa chính 299 được lập năm 1978, thể hiện thửa đất trên có số thửa là 211; diện tích 240m², có lối đi vào đất ông K. Lối đi này được quy hoạch là lối đi chung cho các hộ dân có đất liền kề hay lối đi riêng UBND xã Y không rõ, vì thời điểm lập bản đồ 299, các hộ có đất liền kề không ai mở lối đi ra lối đi vào đất của gia đình ông K. Năm 2001, UBND xã Y thực hiện chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho các hộ dân trong toàn xã lần đầu, nên đã tiến hành đo đạc kiểm tra hiện trạng và quy hoạch thành bản đồ địa chính 2001 để trình cấp trên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân. Tại bản đồ 2001, thửa đất đứng tên ông K là thửa số 303; tờ bản đồ số 02, diện tích 210m² và diện tích đất lối đi vào đất của gia đình ông K được thể hiện là lối đi chung cho các hộ dân có đất liền kề. Tại thời điểm lập bản đồ 2001, các hộ có đất liền kề cũng không ai mở lối đi ra lối đi vào đất của gia đình ông K, vì các hộ đều có lối cổng đi riêng và ổn định. Nguyên nhân diện tích đất đứng tên ông K thay đổi từ 240m² còn 210m² là do phần diện tích lối đi vào đất của ông K khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tính vào phần diện tích đất ở của ông K mà quy hoạch làm lối đi chung cho các hộ liền kề. Quy trình điều chỉnh diện tích đất của ông K như thế nào UBND xã Y không có tài liệu chứng minh.

Căn cứ vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã Y thể hiện thửa đất gia đình ông K đang sử dụng đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 210m², số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là K321755, cấp năm 2001, chủ sử dụng đất Lê Văn K. UBND xã Y xác định: Phần diện tích lối đi vào đất của gia đình ông K đang có tranh chấp đã được quy hoạch là lối đi chung cho các hộ liền kề, còn việc các hộ đó có sử dụng lối đi này hay không thì tùy thuộc vào điều kiện sinh hoạt của từng hộ.

Trên cơ sở kết quả giám định của Phòng K1- Công an tỉnh V đối với Trích lục án hộ của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lạc ngày 27/8/1984 và Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Văn K. Quan điểm của đại diện UBND xã Y xác định về quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K là sai, bởi khi làm thủ tục cấp giấy cho ông Khuya UBND xã không căn cứ vào nguồn gốc thửa đất nên không yêu cầu chủ đất phải nộp các văn bản liên quan đến thừa kế mà chỉ căn cứ vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất để cấp giấy cho ông K. Nguyên nhân, là do cán bộ địa chính và Chủ tịch UBND xã thời điểm cấp giấy cho ông K chưa nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật về đất đai nên đơn giản hóa thủ tục, tin vào việc tự kê khai của chủ đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay cụ Đ yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K321755 của chủ sử dụng Lê Văn K đối với thửa đất số 303 tại thôn L, xã Y. UBND xã Y đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N trình bày:

Gia đình bà được quyền sử dụng đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 02, diện tích 210m²; địa chỉ: Khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đã được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30 tháng 9 năm 2001, đứng tên ông Nguyễn Văn B1 (chồng bà). Thửa đất có các chiều cạnh tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp đường ngõ xóm;

Phía Nam giáp đất hộ ông K đang sử dụng và lối đi (đang xảy ra tranh chấp);

Phía Đông giáp đất hộ ông T9;

Phía Tây giáp đất hộ ông X.

Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ chồng bà là cụ Nguyễn Văn X1 (chết năm 1980) và cụ Nguyễn Thị H6 (chết từ lâu, bà không nhớ năm nào) để lại cho vợ chồng bà. Quá trình sử dụng đất, từ trước năm 1988, 1989, gia đình bà mở cửa lách về phía Nam của thửa đất ra phần diện tích đất lối đi đang xảy ra tranh chấp (Cổng chính của gia đình bà ở phía Bắc giáp đường ngõ xóm). Sau năm 1989, gia đình bà sửa lại nhà bếp nên có xây tường rào chắn lối cửa lách, nhưng xây thấp để khi nào có công việc thì vẫn sử dụng đi qua tường rào này ra lối đi chung đang tranh chấp. Sau đó, (bà không nhớ thời gian) gia đình bà không còn sử dụng lối cửa lách này, vì gia đình ông K đã xây thêm vào tường rào của gia đình bà bịt kín cửa lách. Theo bà, cả 04 hộ gia đình là bà, ông S, ông X và ông K đều mở cổng đi ra lối đi đang xảy ra tranh chấp. Với gia đình ông S, ông X, ông K là lối cổng đi chính, gia đình bà là lối đi phụ. Khoảng từ năm 1993 đến năm 1996, gia đình ông S, ông X đã chuyển vị trí cổng để làm lối đi chính như hiện tại cho thuận lợi.

Lối đi đang tranh chấp, trước đây là đường đất. Quá trình sử dụng, gia đình ông K tự tôn tạo, lát gạch phồng, gạch vụn và làm cổng sắt (làm từ năm nào bà không nhớ) và khi làm không nói gì với gia đình bà, vì gia đình bà đi lối đi khác nên không để ý. Nay ông S, ông X yêu cầu ông K trả lại diện tích lối cổng đi, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, gia đình bà không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Lê Văn G trình bày: Cụ G đồng ý với lời trình bày của bị đơn ông Lê Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cụ Trịnh Thị Đỗ . Cụ G đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Kiều Thị L trình bày: Bà L đồng ý với toàn bộ lời trình bày của ông Lê Văn K. Bà L đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông S, ông X và chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị Tường V và anh Lê Minh C1 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất của gia đình anh, chị như ông K trình bày. Khi anh, chị lớn lên chỉ thấy có gia đình anh, chị đi lối đi đang xảy ra tranh chấp. Khi gia đình anh, chị cải tạo, nâng cấp, lát đường đi, không có hộ nào liền kề có ý kiến. Nay chị V, anh C1 đề nghị Tòa án xem xét bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S, ông X.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện hợp pháp cho các cháu L3, A, T5 là anh Nguyễn Văn H2 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất của gia đình anh và quá trình sử dụng đất như bà N trình bày. Với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh H2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện hợp pháp cho các cháu L3, A, T5 là chị Nguyễn Thị N1 trình bày: Chị sinh sống cùng gia đình anh Nguyễn Văn H2 từ năm 2004 đến nay. Do gia đình chị có lối đi riêng từ khi chị về làm dâu, nên lối đi đang tranh chấp, chị không biết là lối đi chung hay lối đi riêng, chị không có đề nghị gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị T2 trình bày: Bà đồng ý với lời trình bày của ông X và đề nghị Tòa án giải quyết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà, gia đình ông S và gia đình bà N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thành Đ1 trình bày: Anh đang ở cùng bố mẹ anh trên thửa đất số 276, tờ bản đồ số 02, diện tích 188m², tại thôn L, xã Y, huyện Y. Trước đây, gia đình anh có mở cổng sang lối đi đang tranh chấp hay không anh không biết, nhưng anh thấy mỗi khi nhà ai có việc phải sử dụng thì vẫn coi đó là phần đất sử dụng chung mà không phải mượn, phải nhờ. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết bảo đảm quyền và lợi ích của gia đình anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thanh vắng mặt tại phiên toà, nhưng tại bản tự khai chị T2 trình bày: Chị và anh Đ1 kết hôn với nhau năm 2020 và chị sinh sống cùng gia đình anh Đ1 từ đó đến nay, nhưng về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất chị không nắm được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị L1 trình bày: Bà đồng ý với lời trình bày của ông S và đề nghị Tòa án giải quyết bảo vệ quyền lợi cho hộ gia đình bà, gia đình ông X, gia đình bà N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện hợp pháp cho các cháu T1, C2, H4 là anh Nguyễn Huy L2 trình bày: Anh đang ở cùng bố mẹ anh trên thửa đất số 304, tờ bản đồ số 02, diện tích 307m², tại thôn L, xã Y, huyện Y. Theo anh, trước năm 1993, gia đình anh có mở cổng sang lối đi đang tranh chấp. Sau năm 1993, đường làng mở ra phía trước cửa nhà ở của gia đình anh, nên gia đình anh đã chuyển cổng ra vị trí đường mới làm lối đi chính, không đi lối đi đang tranh chấp nữa. Tuy nhiên, mỗi khi gia đình có việc thì đều sử dụng lối đi đang tranh chấp này mà không phải mượn, phải nhờ ai. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết bảo đảm quyền và lợi ích của gia đình anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện hợp pháp cho các cháu T1, C2, H4 là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh L2 kết hôn với nhau năm 2012 và chị sinh sống cùng gia đình anh L2 cho đến nay. Năm 2018, giữa bố chồng chị, ông X và ông K xảy ra tranh chấp lối đi cạnh thửa đất số 304 của gia đình chồng chị. Chị là người ở địa phương khác về làm dâu nên không nắm được diện tích đất đang tranh chấp là lối đi chung hay riêng. Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 34, 35, 39, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 169, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4, 15 Điều 3, Điều 96, khoản 1 Điều 171, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 175 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn X về việc yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 37,8m². Cụ thể các chiều cạnh tiếp giáp như sau:

    Phía Bắc giáp đất hộ ông X, bà N theo chỉ giới 2,3,4,5,6, có chiều dài lần lượt: 2-3 = 9,06m; 3-4 = 6,22m; 4-5 = 3,81m và 5-6=1,83m.

    Phía Nam giáp đất hộ ông S theo chỉ giới 1-19 dài 18,85m.

    Phía Đông giáp đất hộ ông K theo chỉ giới 6,7,8,19,6, có chiều dài lần lượt: 6-7 = 0,65m; 7-8 = 0,58m; 8-19 = 2,88m.

    Phía Tây giáp đường ngõ xóm theo chỉ giới 1-2 dài 1,67m.

    (có sơ đồ kèm theo)

    Là lối đi chung của 04 hộ gia đình ông S, ông X, bà N và ông K.

    Và buộc hộ gia đình ông Lê Văn K phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi chung cho 04 hộ cùng sử dụng.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của cụ Trịnh Thị Đỗ v việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 528/QĐ-UB, ngày 13 tháng 11 năm 2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y, về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho chủ sử dụng đất tại xã Y đối với trường hợp cấp cho ông Lê Văn K.
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ Trịnh Thị Đỗ v việc Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K321755 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp năm 2001 đứng tên ông Lê Văn K, đối với thửa đất số 303, tờ bản đồ số 02, diện tích 210m²; địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc

    Xác định phần diện tích đất 37,8m2, có các chiều cạnh tiếp giáp như sau:

    Phía Bắc giáp đất hộ ông X, bà N theo chỉ giới 2,3,4,5,6, có chiều dài lần lượt: 2-3 = 9,06m; 3-4 = 6,22m; 4-5 = 3,81m và 5-6=1,83m.

    Phía Nam giáp đất hộ ông S theo chỉ giới 1-19 dài 18,85m.

    Phía Đông giáp đất hộ ông K theo chỉ giới 6,7,8,19,6, có chiều dài lần lượt: 6-7 = 0,65m; 7-8 = 0,58m; 8-19 = 2,88m.

    Phía Tây giáp đường ngõ xóm theo chỉ giới 1-2 dài 1,67m.

    (có sơ đồ kèm theo)

    Là lối đi riêng thuộc quyền sử dụng của cụ Trịnh Thị Đỗ .

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 1325/QĐKN-VKS-DS kháng nghị toàn bộ Bản án sơ thẩm. Ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có Quyết định số 168/QĐTĐKN-VKS-DS thay đổi Quyết định kháng nghị số 1325/QĐKN-VKS-DS ngày 18/8/2023 với nội dung: chỉ kháng nghị một phần đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể là đề nghị TAND cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, sửa án sơ thẩm theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn X về việc yêu cầu Toà án công nhận diện tích đất 37,8m² .. (có sơ đồ kèm theo), là lối đi chung của 04 hộ gia đình ông S, ông X, bà N, ông K và buộc hộ gia đình ông K phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi chung cho 04 hộ cùng sử dụng. Đối với yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận và huỷ một phần Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Toà án cấp sơ thẩm đã giải quyết có căn cứ, đúng pháp luật.

Ngày 07/8/2023 và ngày 17/8/2023, ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn X có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn S và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông X ông S xác định lại nội dung kháng cáo là kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, cụ thể là chỉ đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, công nhận diện tích đất 37,8m² là lối đi chung của 04 hộ gia đình ông S, ông X, bà N, ông K và buộc hộ gia đình ông K phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi chung cho 04 hộ cùng sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận diện tích đất 37,8m² .. (có sơ đồ kèm theo), là lối đi chung của 04 hộ gia đình ông S, ông X, bà N, ông K và buộc hộ gia đình ông K phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi chung cho 04 hộ cùng sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngày 07/8/2023 và ngày 17/8/2023, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X có đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung. Ngày 18/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có Kháng nghị phúc thẩm số 1325/QĐKN-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc là trong thời hạn quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm đối với vụ án này là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án

[2.1]. Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và yêu cầu khởi kiện, đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X đề nghị Tòa án công nhận ngõ đi (theo kết quả đo đạc ngày 13 tháng 3 năm 2021) có diện tích 37,8m² (Cụ thể các chiều cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp đất hộ ông X, bà N theo chỉ giới 2,3,4,5,6, có chiều dài lần lượt: 2-3 = 9.06m; 3-4 = 6,22m; 4-5 = 3,81m và 5-6=1,83m. Phía Nam giáp đất hộ ông S theo chỉ giới 1-19 dài 18,85m. Phía Đông giáp đất hộ ông K theo chỉ giới 6,7,8,19,6, có chiều dài lần lượt: 6-7 = 0,65m; 7-8 = 0,58m; 8-19 = 2,88m. Phía Tây giáp đường ngõ xóm theo chỉ giới 1-2 dài 1,67m), là ngõ đi chung của 04 hộ gia đình ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị Nvà ông Lê Văn K.Buộc hộ gia đình ông Lê Văn K phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của ngõ đi chung cho 04 hộ cùng sử dụng.

[2.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Bản đồ 299, đo đạc năm 1978 đến năm 1985 hoàn thành (Bản đồ xanh) có thể hiện có 01 ngõ đi vào nhà cụ Trịnh Thị Đ, Trịnh Thị T8 (gia đình ông Lê Văn K), nhưng không thể hiện đây là ngõ đi thuộc quyền sử dụng riêng của gia đình ông K hay là ngõ đi chung. Bản đồ xanh lập năm 1978 lập chưa đúng kỹ thuật, do không có nét khép thửa. Ủy ban nhân dân xã Y cũng xác nhận nếu căn cứ vào bản đồ xanh thì không rõ ngõ đi này là ngõ đi chung cho các hộ dân có đất liền kề hay ngõ đi riêng của gia đình ông K.

[2.3] Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Uỷ ban nhân dân xã có ý kiến khác nhau, khi thì trình bày là ngõ đi chung, khi thì trình bày là ngõ đi riêng, khi thì trình bày là không rõ là ngõ chung hay ngõ riêng. Lời khai của người dân sinh sống tại địa phương cũng có lời khai khác nhau.

[2.4] Tại bản đồ lập năm 1994-1996 thể hiện đất của gia đình ông K là thửa số 303 tờ bản đồ số 02, diện tích chỉ có 210m² và ngõ đi vào nhà của gia đình ông K được thể hiện là ngõ đi chung cho các hộ dân có đất liền kề.

[2.5] Mặc dù các hộ dân liền kề không sử dụng ngõ đi này nhưng thực tế cũng đã từng mở cửa ngách để đi ra ngõ đi trên. Trên diện tích ngõ đi đang xảy ra tranh chấp có công trình là mái nhà ở, mái tôn công trình phụ, cửa sổ khi mở, cục nóng điều hòa nhiệt độ, cánh cổng phụ của gia đình ông S và gia đình ông X làm le ra lối đi này. Theo lời khai của ông S, ông X thì khi ông K lắp cổng sắt thì có đưa chìa khóa cổng cho các ông để sử dụng chung. Thời điểm ông S, ông X xây tường ngăn với lối đi (không sử dụng nữa) là năm 1989, đến năm 2018 khởi kiện là 29 năm (chưa đủ 30 năm).

[2.6] Xem xét diện tích thửa đất của hộ gia đình ông K thì thấy rằng: Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/ST ngày 10/8/1984 thì diện tích đất gia đình ông K được thừa kế chỉ có 8 thước tương đương 192m²; căn cứ kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của gia đình ông K đang sử dụng khi không bao gồm lối đi đang tranh chấp là 224,5m². Như vậy, diện tích đất của gia đình ông K theo Bản án năm 1984 sẽ không bao gồm cả diện tích ngõ đi.

[2.7] Do đó, có cơ sở xác định phần diện tích ngõ đi đang tranh chấp 37,8m² nêu trên là ngõ đi chung của 04 hộ gia đình ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn K, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X; chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Vĩnh Phúc.

[3] Về án phí và chi phí tố tụng khác:

[3.1] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, tiền thuê đơn vị đo đạc kiểm tra hiện trạng đất (BL40) và đã chi phí xong nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra xem xét là đúng quy định.

[3.2] Theo thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 296/TB-TA ngày 04/12/2018 (BL25) và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0000566 ngày 05/12/2018 thì ông Nguyễn Văn X nộp tạm ứng án phí số tiền là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) (BL 26). Tuy nhiên, khi Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn X và cụ Trịnh Thị Đ được miễn toàn bộ án phí, lại tuyên hoàn trả lại ông Nguyễn Văn X 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là không đúng.

[3.3] Do yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X được chấp nhận nên Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí và tuyên sửa lại phần án phí. Ông S, ông X không phải chịu án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm. Ông X được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp. Bị đơn ông Lê Văn K phải chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử

  1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X; chấp nhận Kháng nghị số 1325/QĐKN-VKS-DS ngày 18/8/2023 và Quyết định số 168/QĐTĐKN-VKS-DS ngày 26/4/2024 về thay đổi quyết định kháng nghị số 1325/QĐKN-VKS-DS của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Tuyên xử:
    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận diện tích đất (theo kết quả đo đạc ngày 13 tháng 3 năm 2021) là 37,8m² (Cụ thể các chiều cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp đất hộ ông X, bà N theo chỉ giới 2,3,4,5,6, có chiều dài lần lượt: 2-3 = 9.06m; 3-4 = 6,22m; 4-5 = 3,81m và 5-6=1,83m. Phía Nam giáp đất hộ ông S theo chỉ giới 1-19 dài 18,85m. Phía Đông giáp đất hộ ông K theo chỉ giới 6,7,8,19,6, có chiều dài lần lượt: 6-7 = 0,65m; 7-8 = 0,58m; 8-19 = 2,88m. Phía Tây giáp đường ngõ xóm theo chỉ giới 1-2 dài 1,67m), là lối đi chung của 04 hộ gia đình ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị N và gia đình cụ Trịnh Thị Đ (ông Lê Văn K) (có sơ đồ kèm theo).
    • - Buộc hộ gia đình ông Lê Văn K phải tháo dỡ các công trình (trụ cổng, cánh cổng sắt và gạch lát lối đi) trên đất, để trả lại hiện trạng ban đầu của lối đi chung cho 04 hộ cùng sử dụng.
  3. Về án phí:
    • - Nguyên đơn ông Nguyễn Văn X được trả lại 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc theo Biên lai số AA/2017/0000566 ngày 05/12/2018.
    • - Bị đơn ông Lê Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSNDCC tại Hà Nội;

- TAND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- Cục THA dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;

- Các đương sự (theo địa chỉ).

- Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Lực

Phạm Việt Hà

Trần Thị Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/DS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung; yêu cầu hủy gcnqsdđ

  • Số bản án: 224/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung; Yêu cầu hủy GCNQSDĐ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung; Yêu cầu hủy GCNQSDĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger