|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 224/2022/HS-ST Ngày: 17-8-2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Từ Minh Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Phương và bà Trần Kim Thoa;
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2022/TLST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 10/TB-TA ngày 22 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Triệu Hoàng T, sinh năm 2001 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: 31F/1B khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Hoàng Th, sinh năm 1974 và bà Thạch Thị S, sinh năm 1978; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/01/2022. Ngày 21/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định truy nã đối với bị cáo. Vắng mặt
Bị hại: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1993; nơi cư trú: 78/4 khu phố T, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/9/2021, khi đang cách ly điều trị Covid-19 tại trường Tiểu học B, thuộc khu phố B1, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Triệu Hoàng T nhìn thấy trong phòng học lớp 5/5 có 02 tủ nhôm gắn trên tường nhưng đã khóa bằng ổ khóa, lúc này T dùng tay cạy được 01 bên cánh tủ thấy trong tủ có 01 balo, bên trong balo có 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 14 Core i5, 01 dây sạc máy tính và 01 con chuột điện tử không dây của ông Nguyễn Thanh S, giáo viên trường Tiểu học B. T đã lén lút lấy máy tính xách tay, dây sạc và con chuột ra khỏi balo rồi để balo vào lại ngăn tủ, sau đó đóng tủ lại, đem các tài sản vừa trộm được về phòng cách ly lén lút sử dụng. Đến khoảng 16g ngày 05/9/2021, khi hoàn thành xong cách ly y tế, T đã đem các tài sản đã trộm bỏ vào balo đựng quần áo và vật dụng cá nhân, mang về phòng trọ cất giấu. Ngày 06/9/2021, ông S đến trường làm việc thì phát hiện bị mất tài sản nên trình báo cơ quan công an, Công an phường B tiến hành kiểm tra phòng trọ của T thì phát hiện, thu giữ 1 máy tính xách tay, 01 dây sạc máy tính và 01 con chuột điện tử không dây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 12/11/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An tiến hành định giá và xác định 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 14 Core i5, 01 dây sạc máy tính và 01 con chuột điện tử không dây có tổng giá trị 5.800.000đồng (năm triệu tám trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 125/CT-VKS -TA ngày 15/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Triệu Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Triệu Hoàng T từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 14 Core i5, 01 dây sạc máy tính và 01 con chuột điện tử không dây: Qua điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh S, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho ông S là có căn cứ.
Trong quá trình xét xử sơ thẩm, bị cáo trốn đồng thời việc truy nã không có kết quả thể hiện qua Quyết định truy nã số 23/QĐTN-CSĐT ngày 21/6/2022 và Công văn số 1132/CV-ĐTTH ngày 21/7/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An; bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Toàn bộ lời khai của bị cáo, bị hại trong suốt quá trình điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án đều thống nhất với nội dung truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Bị cáo trốn và việc truy nã không có kết quả nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 03/9/2021, tại trường Tiểu học B, thuộc khu phố B1, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 14 Core i5, 01 dây sạc máy tính và 01 con chuột điện tử không dây của ông Nguyễn Thanh S, qua định giá có tổng giá trị 5.800.000đồng (năm triệu tám trăm nghìn đồng).
Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Triệu Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng vì lòng tham, muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng lại bỏ trốn, không tuân thủ nghĩa vụ, dẫn đến bị truy nã, đến nay vẫn chưa có kết quả, gây khó khăn cho công tác xét xử, thể hiện bị cáo là người khó cải tạo giáo dục.
Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 14 Core i5, 01 dây sạc máy tính và 01 con chuột điện tử không dây: Qua điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh S, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại các tài sản trên cho ông S là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 58, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 106, Điều 136, điểm a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Triệu Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Triệu Hoàng T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí:
Buộc bị cáo Triệu Hoàng T phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Từ Minh Toàn |
Bản án số 224/2022/HS-ST ngày 17/08/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 224/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/08/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Triệu Hoàng T 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"
