Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2239/2024/DS-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Quốc Hưng
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1613/2023/TLST-DS, ngày 25/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2566/2024/QĐXXST-DS ngày 24/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3021/2024/QĐST-DS ngày 13/5/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    - Ông Trần Trung N, sinh năm: 1990

    Địa chỉ: Tổ E, Khóm F, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    - Bà Trần Thị Thảo L, sinh năm: 1994

    Địa chỉ: Tổ E, Khóm E, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    Đại diện theo ủy quyền của ông N và bà L: Ông Nguyễn Đình Quốc S.

    Địa chỉ: Số A Đường B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1995

    CCCD số [...] cấp ngày 19/01/2022.

    Địa chỉ: Số D đường T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Tại phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quốc S có đơn xin xét xử vắng mặt; Bà nguyễn Thị Hồng T1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 02/10/2023, các bản tự khai, nguyên đơn - ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L, có ông Nguyễn Đình Quốc S là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Khoảng đầu năm 2022 bà Nguyễn Thị Hồng T có vay tiền của vợ chồng ông N và bà L để thực hiện việc đáo hạn ngân hàng. Tuy nhiên, bà T đã không thực hiện việc trả tiền như đã hứa hẹn với ông N và bà L. Vào ngày 03/10/2022 giữa ông N, bà L và bà T đã thống nhất xác nhận công nợ với nhau, cụ thể: Bà T xác nhận có vay của ông N số tiền 4.266.000.000 đồng. Bà T cam kết sẽ thanh toán cho ông N số tiền 1.000.000.000 đồng trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ký biên bản thỏa thuận. Kể từ thời điểm thanh toán xong số tiền 1.000.000.000 đồng thì đến tháng tiếp theo bà T cam kết sẽ thanh toán vào mỗi cuối tháng số tiền tối thiểu từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng cho ông N và bà L. Trong thời gian thanh toán, kể từ thời điểm thanh toán xong số tiền 1.000.000.000 đồng, nếu bà T không thực hiện đúng như cam kết thì bà T phải có trách nhiệm chuyển nhượng các tài sản của bà T tại Bình Định để thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn 02 tháng.

Thực tế, bà T đã thanh toán được số tiền 1.000.000.000 đồng và từ tháng 4/2022 đến tháng 8/2023, hàng tháng bà T có thanh toán cho ông N và bà L số tiền 100.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà T đã trả cho ông N và bà L là 2.000.000.000 đồng. Kể từ sau tháng 8/2023 trở đi, bà T không tiếp tục việc trả nợ như cam kết. Ông N và bà L nhiều lần yêu cầu bà T phải trả nợ đúng hạn nhưng bà T luôn trốn tránh. Do vậy, ông N và bà L khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Hồng T phải thanh toán số tiền còn nợ là 2.266.000.000 đồng. Việc trả nợ trả thành 01 lần và thực hiện ngay khi có bản án có hiệu lực.

Đối với số tiền nêu trên, ông N và bà L cho cá nhân bà T vay tiền không liên quan ai khác nên xác định chỉ khởi kiện bà T là người có trách nhiệm trả tiền.

Quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn – bà Nguyễn Thị Hồng T không đến làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án. Tòa án đã niêm yết; thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng các văn bản tố tụng nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn – Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L khởi kiện bị đơn – bà Nguyễn Thị Hồng T tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại thành phố T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đình Quốc S có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn – bà Nguyễn Thị Hồng T vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, xét Biên bản thỏa thuận ngày 03/10/2022 giữa ông Trần Trung N và bà Nguyễn Thị Hồng T có nội dung: “Ông Trần Trung N đồng ý cho vay và bà Nguyễn Thị Hồng T đồng ý vay một khoản tiền. Tổng số tiền bà Nguyễn Thị Hồng T hiện tại đang vay nợ ông Trần Trung N là 4.266.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm sáu mươi sáu triệu đồng); Bà Nguyễn Thị Hồng T cam kết sẽ thanh toán cho ông N 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) trong thời hạn 30 (Ba mươi ngày) kể từ ngày ký Biên bản thoả thuận này; Kể từ thời điểm thanh toán xong 01 (Một) tỷ, đến tháng tiếp theo bà Nguyễn Thị Hồng T cam kết thanh toán vào cuối mỗi tháng, tối thiểu số tiền từ 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) đến 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng)/tháng cho ông N và bà L”.

Xét Biên bản thỏa thuận ngày 03/10/2022 được xác lập, ông N, bà L và bà T cùng ký tên vào biên bản xác nhận việc vay tiền và thực hiện theo thỏa thuận đã ký. Quá trình thực hiện thỏa thuận trên, từ tháng 4/2022 đến tháng 8/2023, hàng tháng bà T có thanh toán cho ông N và bà L số tiền 100.000.000 đồng. Nguyên đơn thừa nhận bà T đã trả cho ông N và bà L được tổng cộng là 2.000.000.000 đồng. Kể từ sau tháng 8/2023 trở đi, bà T không tiếp tục việc trả nợ như cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Do đó, ông N và bà L khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Hồng T phải thanh toán số tiền còn nợ là 2.266.000.000 đồng cho ông N và bà L là có căn cứ. Ông N và bà L không yêu cầu tính tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T có trách nhiệm trả cho ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L số tiền 2.266.000.000 đồng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn – bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 77.320.000 đồng tiền án phí.

Nguyên đơn – ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 38.660.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006012 ngày 24/10/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập.

[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phân tích và đề nghị là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Điều 357, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Luật phí và lệ phí năm 2015.
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Luật thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T có trách nhiệm trả cho ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L số tiền còn nợ là 2.266.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm sáu mươi sáu triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Hồng T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn – bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 77.320.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí.

    Nguyên đơn – ông Trần Trung N và bà Trần Thị Thảo L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 38.660.000 đồng (Ba mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006012 ngày 24/10/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. Thủ Đức;
  • - CCTHADS Tp. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Quốc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2239/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 2239/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông N và bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger