|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2235/2024/DS-ST
Ngày: 31/5/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Phụng
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 31/5/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1764/2023/TLST-DS ngày 03/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1967/2024/QĐXXST-DS ngày 09/4/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 2634/2024/QĐST-DS ngày 03/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1984
Địa chỉ: 1 N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: 1398 Phạm Văn Đồng, phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức
- Bị đơn: Bà Hà Thị N, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: A T, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại tòa nguyên đơn ông Nguyễn Quốc V có người đại diện theo ủy quyền ông Trần Văn C trình bày: Ngày 22/5/2023, ông Nguyễn Quốc V cho bà Hà Thị N vay số tiền là 780.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng, không có thỏa thuận về lãi suất; hết thời hạn vay bà N không trả nợ như thỏa thuận; vì vậy ông V khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
Buộc bà Hà Thị N phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Quốc V số tiền vay có vốn gốc là 780.000.000 đồng.
Bị đơn bà Hà Thị N (vắng mặt không có lời khai).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, TP. tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, các đương sự chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa; thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả số tiền gốc là 780.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Hà Thị N cư trú tại thành phố T; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; được pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2023 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự” về “Hợp đồng vay tài sản” được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn bà Hà Thị N đã được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như. Thông báo thụ lý; giấy triệu tập đương sự; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng bà N không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do, coi như đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà N là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Quốc V đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn – bà Hà Thị N phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Quốc V số tiền vay có gốc là 780.000.000 đồng.
- Căn cứ hợp đồng vay tiền ngày 22/5/2023 có nội dung : “... Bên A (bên cho vay) ông Nguyễn Quốc V; bên B (bên vay tiền) bà Hà Thị N; hai bên cùng thỏa thuận là bên A cho bên B vay số tiền là 780.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất do hai bên tự thỏa thuận...”.
- Căn cứ biên nhận tiền vay ngày 22/5/2023 có nội dung : “... Bên A (bên cho vay) ông Nguyễn Quốc V; bên B (bên vay tiền) bà Hà Thị N; bà N nhận tiền vay theo hợp đồng số ... ngày 22/5/2023, số tiền vay 780.000.000 đồng, cụ thể ngày 22/5/2023 bà N đã nhận đủ số tiền 780.000.000 đồng từ ông V...
- Điều 93 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về chứng cứ như sau: Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
Đối chiếu với quy định trên của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định, đánh giá, khách quan, toàn diện, về từng chứng cứ mà ông V cung cấp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cụ thể là hợp đồng vay tiền ngày 22/5/2023, biên nhận tiền vay ngày 22/5/2023 là hợp pháp; các tài liệu, chứng cứ do ông V cung cấp để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án là có thật, phía bị đơn cũng không phản đối gì đối với chứng cứ nguyên đơn cung cấp. Do đó, ông V khởi kiện yêu cầu bà N trả lại số tiền gốc là 780.000.000 đồng đồng là có căn cứ, nên được chấp nhận
- Về lãi suất nguyên đơn không yêu cầu, nên hội đồng xét xử không xét.
- Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đúng luật, nên được chấp nhận.
- Từ những nhận định và phân tích nêu trên, căn cứ Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; là có căn cứ được chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 35.200.000 đồng; bà Hà Thị N phải chịu
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 93, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Quốc V tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể:
Buộc bà Hà Thị N phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Quốc V số tiền vay có vốn gốc là 780.000.000 (bảy trăm tám mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 35.200.000 (ba mươi lăm triệu hai trăm nghìn) đồng bà Hà Thị N phải chịu. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Quốc V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.600.000 (mười bảy triệu, sáu trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0000509 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Quyền yêu cầu thi hành án: “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Tình |
Bản án số 2235/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 2235/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
