TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 223/2024/HS-PT Ngày: 28 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng
Ông Nguyễn Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 175/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Cao Hoài N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo kháng cáo:
Cao Hoài N, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2001, tại An Giang. Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh AG; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Thanh V và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ con (N sống như vợ chồng với người khác); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/10/2018, Tòa án thị xã T, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản (lúc này bị cáo chưa đủ 18 tuổi); Ngày 18/02/2020, Tòa án thị xã T, tỉnh AG xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 19/3/2021; tạm giữ: Ngày 19 tháng 01 năm 2024; tạm giam: Ngày 28 tháng 01 năm 2024 (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo H, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 18/01/2024 gia đình ông Hồ Văn N1 phát hiện mất trộm tài sản là 3 xe mô tô, 01 điện thoại di động và 2.000.000 đồng nên trình báo Công an thị trấn T. Xét thấy, vụ án có tính chất phức tạp nên Công an thị trấn T kết hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành xác minh làm rõ, xác định Cao Hoài N và Cao Văn H1 là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Cụ thể như sau:
Cao Hoài N và Cao Văn H1 có mối quan hệ bà con và cùng cư trú tại phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Vào khoảng 00 giờ, ngày 18/01/2024, Cao Hoài N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên điều khiển xe mô tô loại xe Mio, màu trắng, biển số: 67K5 – 8206, đến nhà Cao Văn H1 rủ đi sang huyện H tìm tài sản lấy trộm. H1 đồng ý. Cả hai qua bến đò Mương Miễu, điều khiển xe chạy đến khóm T, thị trấn T, huyện H, thấy nhà ông Hồ Văn N1 có tầng 1 đang mở cửa nên dừng xe lại. N leo lên chuồng gà cặp vách nhà rồi tiếp tục đứng lên vai của H1 để leo lên tầng 1. Sau khi N leo được lên tầng 1 thì H1 dẫn xe đi ra khỏi nhà ông N1 chờ N, còn N đi vào trong nhà và đi xuống tầng trệt thấy trong phòng ngủ có cái quần đang treo trên sào đồ, có cái ví trong túi quần nên N lấy cái ví kiểm tra bên trong có nhiều tờ tiền Việt Nam mệnh giá khác nhau tổng số tiền 2.000.000 đồng. N lấy tiền bỏ vào túi quần và ném ví xuống nền gạch. Tiếp tục, N đi ra phía phòng khách bật công tắc mở đèn sáng rồi lấy bộ điều khiển (remote) bật nút mở cửa cuốn (cửa chính) để mở cửa. Lúc này, N nhìn trên kệ tủ thấy điện thoại di động SAMSUNG J4+, màu đen, 04 xe mô tô đang dựng, trong đó có xe Vison biển số 66G1-260.04, xe Future Neo FI biển số: 66G1-393.62, xe WAVE RSX biển số: 66N1-363.60 và xe WAVE. Trong đó, có xe V1 và xe Future Neo FI có sẵn chìa khóa trên xe. Sau khi cửa cuốn mở lên, N lấy điện thoại bỏ vào túi quần, tiếp tục dắt xe Future Neo FI, xe Wave RSX và xe Vison ra khỏi nhà ông N1 để ngoài đường lộ. Lúc này, N điều khiển xe Future Neo FI chạy về hướng bến đò Mương Miễu. Khi đến nơi thấy H1 đang đợi, N đem xe Future Neo FI giấu vào chỗ bóng tối, rồi H1 điều khiển xe Mio chở N tiếp tục quay lại nhà ông N1 lấy xe Vison. Cả hai qua đò Mương Miễu rồi dựng xe Vison ở khu vực bóng tối gần bến phà ở thị xã T. Sau đó, tiếp tục đi qua đò Mương Miễu đến huyện H để lấy xe Future Neo FI. Sau khi di chuyển 02 phương tiện vừa trộm được về phía thị xã T, N điều khiển xe Future Neo FI, H1 điều khiển xe Mio về nhà, Nam cất giấu điện thoại vừa lấy trộm và để lại xe Mio tại nhà. N điều khiển xe Future Neo FI chở H1 quay lại lấy xe Vision. H1 điều khiển xe Future neo FI, Nam điều khiển xe Vision đến nhà Lê Giàu Q (bạn của N) ở xã C, thị xã T, tỉnh AG gửi cho Q. Lúc này, trời sáng nên cả hai về nhà không quay lại lấy xe WAVE RSX.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, N đến nhà Q tháo hai biển số xe bỏ vào cốp xe Vision, rồi lấy xe Future Neo FI chạy về gửi tại nhà giữ xe Bệnh viện Đ.
Đến khoảng 13 giờ ngày 19/01/2024, N nhờ chị Cao Thị Y (nhà ở khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh AG, chở đến Bệnh viện Đ để lấy xe về gửi nhà chị Y thì chị Y đồng ý.
Đến 19 giờ ngày 19/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Cao Hoài N và tiến hành các hoạt động điều tra. Ngày 24/01/2024, Cao Văn H1 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh An Giang bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
2.000.000 đồng (trong đó của Cao Hoài N 140.000 đồng, của ông Cao Thanh V là cha của bị can N giao nộp thay 1.860.000 đồng) để bồi thường thiệt hại cho bị hại Hồ Văn N1; Xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ đen, biển số: 66G1-260.04; Xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE NEO FI, màu sơn đỏ xám đen, biển số 66G1-393.62; Xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu sơn đỏ đen, biển số: 66N1-363.60; Ốp lưng điện thoại bằng nhựa, màu xám; Thẻ sim điện thoại MobiFone; ví màu da bò; Điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG J4+, màu đen. Tất cả đã qua sử dụng; Điện thoại di động, nhãn hiệu S A12, màu trắng đen, đã qua sử dụng, của Cao Hoài N không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả cho các bị hại Hồ Văn N1, Hồ Thị K, Hồ Bảo D và Cao Hoài N là chủ sở hữu.
01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn trắng, số máy: 5WP202202, số khung: RLCM5WP204Y002202, biển số: 67K5 – 8206 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội tiếp tục quản lý xử lý theo quy định.
Kết luận định giá tài sản số 04/KLHĐĐGTS -TTHS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ đen, số máy: JF58E0386590, số khung: RLHJF5807EY500802, biển số: 66G1-260.04, đã qua sử dụng. Trị giá: 9.500.000 đồng.
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE NEO FI, màu sơn đỏ xám đen, số máy: JC35E2023129, số khung: RLHJC350X7Y608397, biển số 66G1-393.62 đã qua sử dụng. Trị giá: 18.600.000 đồng.
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu sơn đỏ đen, số máy: JA38E0378013, số khung: RLHJA3 801GY129545, biển số: 66N1-363.60, đã qua sử dụng. Trị giá: 5.900.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG J4+, màu đen, đã qua dụng. Trị giá: 200.000 đồng.
- 01 (một) ốp lưng điện thoại bằng nhựa, màu xám, đã qua sử dụng. Trị giá: 10.000 đồng.
- 01 (một) thẻ sim điện thoại MobiFone, đã qua sử dụng. Trị giá: 25.000 đồng.
- 01 (một) cái ví màu da bò, đã qua sử dụng. Trị giá: 10.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Cao Hoài N đồng phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Cao Hoài N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 01 năm 2024.
2. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn H1 đồng phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Cao Văn H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 15 tháng 6 năm 2024, bị cáo Cao Hoài N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Cao Hoài N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo thừa nhận Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173, Điều 17 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là quá nặng so với hành vi của bị cáo và bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173, Điều 17 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tình tiết nào mới và khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại”.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Cao Hoài N đồng phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, Điều 17 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giữ nguyên mức án của bản án sơ thẩm.
Trong phần tranh luận, bị cáo Cao Hoài N không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo N xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Cao Hoài N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo N đã có hành vi cùng bị cáo H1 trộm tài sản gồm: 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại VISION, biển số:66G1-260.04, trị giá 9.500.000 đồng, của bị hại Hồ Thị K; 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE NEO FI, biển số 66G1-393.62, trị giá 18.600.000 đồng của bị hại Hồ Bảo D; 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX, biển số: 66N1-363.60, trị giá 5.900.000 đồng, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG J4+, trị giá 200.000 đồng, 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa, màu xám, trị giá 10.000 đồng, 01 thẻ sim điện thoại MobiFone, trị giá 25.000 đồng, 01 cái ví màu da bò, trị giá 10.000 đồng và 2.000.000 đồng của bị hại Hồ Văn N1; Tổng trị giá tài sản trộm là 36.245.000 đồng. Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo N là phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Bị cáo N đã cố ý cùng bị cáo H1 thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo N là chủ mưu, có vai trò chính, khởi xướng, rủ rê, cũng là người thực hành trực tiếp thực hiện tội phạm.
Theo BLHS quy định:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
Điều 17. Đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm...
Như vậy, bản án sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án huyện Hồng Ngự xét xử bị cáo N là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Bị cáo N là người thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lúc lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo N từng bị xử phạt 02 bản án với mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng không hối cải, sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục hành vi trộm cắp tài sản của anh Hồ Văn N1, chị Hồ Thị K và anh Hồ Bảo D với tổng giá trị là 36.245.000 đồng làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, làm cho nhân dân hoang mang lo lắng; là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo N xin được giảm nhẹ hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo N đồng phạm “Tội trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS như Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo N không cung cấp tình tiết nào mới cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Cao Hoài N.
QUYẾT ĐỊNH:
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Hoài N.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Cao Hoài N.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Cao Hoài N đồng phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Cao Hoài N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 01 năm 2024.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-02-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Cao Hoài N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Tuấn Anh Phạm Minh Tùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Quang Thông |
Nơi nhận:
- - TANDTC- Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
- - Ban Nội chính Tỉnh ủy;
- - Sở Tư pháp Tỉnh;
- - VKSND Tỉnh;
- - VKSND huyện Hồng Ngự;
- - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
- - CCTHADS huyện Hồng Ngự (02 bản);
- - CQCSĐT CA huyện Hồng Ngự;
- - TAND huyện Hồng Ngự (02 bản);
- - Bị cáo;
- - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
- - Phòng KTNV-THATA Tỉnh;
- - Lưu: VT, HSVA (O).
Bản án số 223/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 223/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
