|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 223/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thành
Ông Phạm Thế Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Sơn Dũng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Ông Tô Xuân Tùng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số 476/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thu T - sinh năm 1997
HKTT: Đội 1- xã T - huyện T - Hà Nội.
Nơi cư trú: đội 7 - thôn V - xã V - huyện T - Hà Nội.
Bị đơn: Anh Lê Văn Đ - sinh năm 1994
HKTT và nơi cư trú: ngõ 50 đội 12 thôn S - xã T - huyện T - Hà Nội
Có mặt chị T, vắng mặt anh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/6/2023 và các lời khai tại Tòa án trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Trương Thị Thu T trình bày:
Chị T và anh Đ kết hôn trên tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T - huyện T - Hà Nội ngày 19/12/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà anh Đ tại ngõ 50 thôn S - xã T - huyện T - Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm do kinh tế gia đình khó khăn, trong khi đó anh Đ lại ham chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần, chị T ngoài việc khuyên nhủ còn phải đi vay tiền để trả nợ cho anh Đ; bên cạnh đó vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến xô xát. Do mâu thuẫn không thể hàn gắn nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021, chị T đã xin phép bố mẹ chồng để về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó dến nay, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Trước đó chị T đã 02 lần làm đơn ly hôn với anh Đ, sau đó vợ chồng về đoàn tụ nhưng cũng không thành. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đ, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân là hạnh phúc gia đình không đạt được nên chị tiếp tục đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Chị T và anh Đ có 01 con chung là Lê Khánh N - sinh ngày 25/9/2017. Ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.
Về điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con khi ly hôn: Chị T và con gái đang sống cùng bố mẹ đẻ chị T tại đội 13, thôn V, xã V. Hiện chị đang làm giáo viên trường mầm non S1 12 triệu đồng/ tháng. Chị thấy mình có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Do bị đơn anh Lê Văn Đ không hợp tác, không đến Tòa án, không lời khai tại Tòa án.
Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 476/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2023 cùng các giấy triệu tập đến tòa tuy nhiên anh Lê Văn Đ không đến và không có văn bản ý kiến. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Lê Văn S bố chồng chị T: Ông S cho rằng mâu thuẫn vợ chồng anh chị bắt nguồn từ chỗ anh Đ mải chơi, ít quan tâm đến gia đình vợ con. Sau khi về vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2020 cho đến nay, nay anh chị không ở được với nhau thì nên ly hôn để giải thoát cho nhau tạo cuộc sống mới.
Tại phiên Tòa chị T trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX cho chị được ly hôn với anh Đ và xin được nuôi con, chị không yêu cầu giải quyết tài sản chung vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phát biểu ý kiến: TAND huyện Thanh Trì thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; Thẩm phán tiến hành tố tụng, xác định quan hệ pháp luật đúng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng; Nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn chưa chấp hành pháp luật, nhiều lần không đến Tòa án. Chị T, anh Đ có đăng ký kết hôn ngày 19/12/2016 tại UBND xã T, huyện T, TP Hà Nội. Đến khoảng đầu năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn, do anh Đ không quan tâm đến vợ con, vợ chồng đã nhiều lần gửi đơn ly hôn ra Tòa án và sau đó rút đơn về đoàn tụ như không thành. Xét chị T, anh Đ không còn chung sống với nhau một thời gian dài, đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Về con chung: chị T và anh Đ có 01 con chung là Lê Khánh N - sinh ngày 25/9/2017. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng. Đề nghị HĐXX xét xét giao con cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Nhận định về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án do chị T có đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án. Về thẩm quyền theo cấp tòa án, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại điểm a khoản1 Điều 35 của BLTTDS. Chị T cung cấp bản sao sổ hộ khẩu xác nhận anh Đ đang sinh sống tại đội 1, xã T, huyện T căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Thanh Trì thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo lãnh thổ và cấp tòa án.
[2]. Nhận định về tình cảm: Chị Trương Thị Thu T và anh Lê Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký ngày 19/12/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội có xuất trình đăng ký kết hôn bản chính, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Xét tại quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa chị T trình bày vợ chồng chung sống một thời gian dài đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ mải chơi không quan tâm đến gia đình vợ con. Chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân với anh Đ từ năm 2020 đến nay. Chị T đã 2 lần gửi đơn ly hôn đến tòa án sau đó rút về nhưng vợ chồng vẫn không thể đoàn tụ được. Phần trình bày mẫu thuẫn của chị T phù hợp với thông tin của bố anh Đ cung cấp. Anh Đ đã được thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có lời khai phản đối hay thừa nhận mâu thuẫn. Như vậy, lời khai chị T là có căn cứ phù hợp với chứng cứ về việc vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn từ năm 2020 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm chăm sóc thương yêu đến nhau đã vi phạm Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX thấy cho chị T được ly hôn với anh Đ là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.
[3]. Về con chung: Chị T, anh Đ có 01 con chung là Lê Khánh N - sinh ngày 25/9/2017. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng. Về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung của chị T: Mẹ con chị khi ly hôn sống cùng bố mẹ đẻ tại nhà đất thôn V, xã V, huyện T. Chị T hiện nay giáo viên trường mầm non S1, thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 12 triệu đồng. Do đó giao cháu N cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cháu. Do anh Đ không cung cấp điều kiện về thu nhập, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy anh Đ không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu mới.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chị T không yêu cầu, Tòa án không xem xét giải quyết.
[5]. Nhận định về quyền kháng cáo và án phí ly hôn sơ thẩm:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 272, và 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các vào Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Thu T đối với anh Lê Văn Đ. Xử cho chị T được ly hôn với anh Đ.
2. Về con chung: Chị T, anh Đ có 01 con chung là Lê Khánh N - sinh ngày 25/9/2017. Khi ly hôn, tiếp tục giao cháu N cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành hoặc đến khi có yêu cầu mới. Anh Đ không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T đến khi có yêu cầu mới.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Đương sự không yêu cầu, Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2020/0063921 ngày 26/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, nay chuyển thành án phí ly hôn.
Báo cho chị T có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND h. Thanh Trì; - Chi cục THADS h. Thanh Trì; - TANDTP. Hà Nội; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng; - UBND xã T, huyện T, TP Hà Nội (Số 191 ngày 19/12/2016). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Hồng Tuấn |
Bản án số 223/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 223/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
