Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2023/HS-ST

Ngày: 26/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Đức Thành
  • 2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2023/TLST-HSST ngày 05 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2023/QĐXXST-HS ngày 12/12/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tiến Q; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1992; Nơi sinh: Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi đăng kí HKTT: phường H, Đ, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Ngách 6 ngõ 30 T, T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ tên cha: Nguyễn Mạnh T (sinh năm 1968); Họ tên mẹ: Hà Thị Kim D (sinh năm 1972); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai;

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Ngày 12/6/2020, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (án số 150/2020/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2023 (chưa xóa án tích).

Nhân thân:

  • Ngày 18/5/2010, bị Công an phường Nam Đồng, quận Đ, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã hết thời hiệu);
  • Ngày 22/11/2010, bị Công an phường Định Công, quận H, Hà Nội xử phạt về hành vi đánh nhau gây thương tích (đã hết thời hiệu);
  • Ngày 21/11/2008, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xử phạt 20 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản (án số 388/2008/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/3/2009 (đã xóa án tích);
  • Ngày 09/9/2013, bị Tòa án nhân dân quận H, Hà Nội xử phạt 10 tháng tù giam về tội Gây rối trật tự công cộng (án số 219/2013/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/6/2013 (đã xóa án tích).

Danh chỉ bản số 425 do Công an huyện T lập ngày 26/7/2023

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Anh T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1991; Nơi sinh: Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi đăng kí HKTT: H, Đ, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: ngách 6 ngõ 30 T, T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ tên cha: Nguyễn Mạnh T (sinh năm 1968); Họ tên mẹ: Hà Thị Kim D (sinh năm 1972); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 28/12/2005, bị đưa vào trường giáo dưỡng 12 tháng;
  • Tháng 8/2006, bị đưa vào trường giáo dưỡng;
  • Ngày 17/6/2013, bị Tòa án nhân dân quận H, Hà Nội xử phạt 06 tháng 04 ngày tù về tội Gây rối trật tự công cộng (án số 219/2013/HSST), được trả tự do ngay tại phiên tòa (đã xóa án tích).
  • Ngày 23/10/2015, bị Tòa án nhân dân huyện T, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (án số 115/2015/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/10/2016 (đã xóa án tích).

Danh chỉ bản số 424 do Công an huyện T lập ngày 26/7/2023

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Trọng D; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2000 Nơi sinh: Sơn La; Giới tính: Nam; Nơi đăng kí HKTT: đội 6, Tự Nhiên, Thường Tín, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Nguyễn Trọng Thương (sinh năm 1974); Họ tên mẹ: Văn Thị Lan (sinh năm 1979); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Ngày 13/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản (án số 62/2019/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/9/2022 (chưa xóa án tích).

Danh chỉ bản số 423 do Công an huyện T lập ngày 26/7/2023

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Phạm Viết Th; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1977 Nơi sinh: Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi đăng kí HKTT: thôn Văn, Thanh Liệt, T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: Phạm Viết Phước (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Lan (sinh năm 1942); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Họ và tên vợ: Trần Thị Mai (sinh năm 1980); Bị cáo có 01 con sinh năm 2002;

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Ngày 18/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (án số 139/2020/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2021 (chưa xóa án tích),

Danh chỉ bản số 426 do Công an huyện T lập ngày 26/7/2023

Bị cáo bị bắt quả tang, áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Công H, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)

HKTT: Thôn T, xã C, huyện C, Thanh Hóa

Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, Hà Nội;

Địa chỉ: Xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Hà Nội

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm, khoảng đầu tháng 5/2023, Nguyễn Tiến Q và anh trai là Nguyễn Anh T cùng nhau góp mỗi người 2.000.000 đồng để mua ma túy về bán kiếm lời. Tiếp đó Q lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm, thỏa thuận mua ma túy của một số đối tượng không quen biết để các đối tượng này mang ma túy đến trực tiếp bán cho Q rồi thu tiền mặt. Sau khi mua được ma túy thì T và Q dùng dao lam chia ma túy thành các gói nhỏ để bán lại cho các đối tượng nghiện khác.

Đến khoảng tháng 6/2023, Nguyễn Trọng D đến ở cùng với Q, T tại ngõ 30 đường T, xã T, huyện T, Hà Nội và được Q rủ cùng tham gia mua bán ma túy với Q và Tú. Các đối tượng phân công cụ thể như sau: Q là người liên hệ mua ma túy còn T và D sẽ là người chia ma túy thành các gói nhỏ với giá từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng sau đó trực tiếp giao dịch bán ma túy cho người nghiện. Tính đến khi bị bắt, mỗi ngày T, Q và D bán ma túy cho khoảng 05 đến 06 người nghiện. Đối với số tiền thu được từ việc bán ma túy, T và D sẽ đưa lại cho Q. Sau khi nhận tiền, Q chia như sau: T và Q chia đôi lợi nhuận, trung bình mỗi người được khoảng 500.000 đồng/01 ngày; ngoài ra hàng ngày Q đưa cho D khoảng 100.000 đồng đến 200.000 đồng để chi tiêu cá nhân; số tiền còn lại, Q sử dụng để chi trả tiền ăn, tiền phí sinh hoạt trong nhà và tiếp tục đi mua ma túy về bán kiếm lời.

Hồi 09 giờ 35 phút ngày 17/7/2023, Hà Công H (SN: 1989; HKTT: Trâm Lụt, Cẩm Yên, Cẩm Thủy, Thanh Hóa) đi đến nhà T, Q, D tại ngõ 30 đường T, xã T mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân nhưng chưa mua được thì bị tổ công tác Công an xã T kiểm tra hành chính. Tại chỗ, H khai nhận trước đó đã nhiều lần mua ma túy của T, lần gần nhất là khoảng 12 giờ ngày 16/7/2023, H mua của T 01 gói ma túy Heroin với giá 300.000 đồng sau đó đã sử dụng hết. Tổ công tác đã đưa H về trụ sở để tiếp tục xác minh, xử lý.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/7/2023, Phạm Viết Th đi đến nhà của T, Q, D để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, có 01 người đi ra lật nắp khe cửa, Th đưa qua khe cửa cho người này 200.000 đồng thì được người này đưa lại cho Th 01 gói giấy bạc bên trong có chứa ma túy Heroine. Sau đó, Th cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ đi tìm nơi sử dụng. Hồi 16 giờ 10 phút cùng ngày, tại đoạn đầu ngõ 30 đường T, xã T, huyện T, Hà Nội tổ công tác Công an xã T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã T, T, Hà Nội phát hiện, Phạm Viết Th đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra Th thả từ lòng bàn tay trái 01 gói nhỏ giấy bạc xuống đường, khi tổ công tác yêu cầu, Th đã tự nhặt gói giấy bạc nhỏ lên và giao nộp cho tổ công tác. Tại chỗ, Th khai nhận 01 gói giấy bạc bên trong có chứa ma túy Heroine là của Th mua tại nhà của T, Q, D với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản quả tang, thu giữ tang vật và đưa Th về trụ sở để giải quyết.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của T, Q, D tại ngõ 30, T, T, Hà Nội, kết quả phát hiện thu giữ:

  • “+ Tại phòng ngủ đầu tiên tầng 1, ở trên mặt tủ giày có:
    • 01 hộp giấy nhỏ bên trong có 10 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng;
    • 01 hộp gỗ hình chữ nhật bên trong có: 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng; 10 mảnh giấy bạc; 01 cân điện tử; 02 dao lam; 01 lưỡi dao dọc giấy;
    • 01 hộp nhựa bên trong có 06 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng;
    • Số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng);
  • + Trên giá gỗ cạnh tủ giầy có:
    • 01 mảnh giấy bạc bên trên có chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
    • 01 bộ tẩu hút tự tạo”.

Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Tiến Q 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu xanh lắp sim số 0962252598 đã qua sử dụng; thu giữ của Nguyễn Anh T 01 điện thoại Samsung S10 màu xanh tím than lắp sim số [...] đã qua sử dụng; thu giữ của Nguyễn Trọng D 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s Plus màu hồng bên trong lắp sim số 0923811963 đã qua sử dụng; thu giữ của Hà Công H 01 điện thoại di động OPPO A3S màu đen bên trong lắp sim số 0973604189 đã qua sử dụng. Cơ quan Điều tra đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật, và đưa T, Q, D về trụ sở để đấu tranh, xử lý.

Xét nghiệm ma túy đối với Phạm Viết Th, Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T, Nguyễn Trọng D, Hà Công H. Kết quả: Dương tính.

Ngày 17/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc thu giữ của Phạm Viết Th. Tại bản kết luận giám định số 4958/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,148 gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,036 gam trong tổng số 0,148 gam bên trong 01 gói giấy bạc chứa ma túy loại Heroine thu giữ của Phạm Viết Th, còn lại 0,112 gam ma túy loại Heroine hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T”.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với toàn bộ tang vật bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T và Nguyễn Trọng D. Tại bản kết luận giám định số 4957/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

  • “1. Tang vật thu giữ của Nguyễn Anh T gồm:
    • Chất bột màu trắng bên trong 10 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,302 gam;
    • 01 bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy loại Methamphetamine.
  • 2. Tang vật thu giữ của Nguyễn Tiến Q gồm:
    • Chất bột màu trắng bên trong 06 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,555 gam.
    • Chất bột màu trắng bên trong 01 mảnh giấy bạc là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,052 gam.
    • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,048 gam.
  • 3. Tang vật thu giữ của Nguyễn Trọng D gồm:
    • Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,248 gam.
    • 01 cân điện tử, 02 dao lam và 01 mảnh dao rọc giấy đều có dính ma túy loại Heroine.
    • 10 mảnh giấy bạc đều không chứa chất ma túy.

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,133 gam trong tổng số 1,302 gam bên trong 10 gói giấy bạc chứa ma túy loại Heroine được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký của Nguyễn Anh T; Sử dụng 0,080 gam trong tổng số 0,555 gam bên trong 06 gói giấy bạc chứa ma túy loại Heroine, 0,021 gam trong tổng 0,052 gam bên trong 01 gói giấy bạc chứa ma túy loại Heroine, 0,017 gam trong tổng 0,048 gam bên trong 01 túi nilong chứa ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phòng bì có chữ ký của Nguyễn Tiến Q; Sử dụng 0,043 gam trong tổng số 0,248 gam bên trong 01 gói giấy bạc chứa ma túy loại Heroine được niêm phong trong 01 phòng bì có chữ ký của Nguyễn Trọng D. Còn lại 1,169 gam ma túy loại Heroine bên trong 10 gói giấy bạc được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Anh T; 0,475 gam ma túy loại Heroine bên trong 06 gói giấy bạc và 0,031 gam ma túy loại Heroine, 0,031 gam Methamphetamine được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Tiến Q; 0,205 gam ma túy loại Heroine được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Trọng D hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T, Nguyễn Trọng D, Phạm Viết Th khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được. Toàn bộ số ma túy bị thu giữ tại nhà là của T, Q, D mua về để bán lại cho các đối tượng nghiện để kiếm lời. Số tiền 1.500.000 đồng là có được từ việc bán ma túy. Do thời gian đã lâu nên Q, T và D không nhớ đã bán ma túy cho bao nhiêu người, thu lợi bao nhiêu, chỉ nhớ mỗi ngày bán cho khoảng 05 đến 06 người với giá từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng/01 gói ma túy Heroin. T và D khai nhận chiều ngày 17/7/2023 có bán ma túy tại nhà nhưng không nhận dạng được người mua do việc mua bán ma túy diễn ra qua khe cổng, người mua và người bán không nhìn thấy nhau, sau khi nhận tiền thì T hoặc D sẽ giao số lượng ma túy tương ứng.

Đối với người bán ma túy cho Q, Q khai mua của một đối tượng không quen biết trên mạng xã hội Facebook, sau khi thỏa thuận các đối tượng trên đến khu vực gần nhà để giao ma túy cho Q và thu lại tiền mặt. Do sợ bị phát hiện nên sau mỗi lần giao dịch mua bán ma túy Q xóa ngay, hiện không nhớ, không lưu giữ tài khoản và mật khẩu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T không có căn cứ để xác minh, xử lý các đối tượng đã bán ma túy cho Q.

Phạm Viết Th khai số ma túy bị Công an thu giữ do trước đó đã mua tại nhà của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T, Nguyễn Trọng D nhưng do việc mua bán diễn ra qua khe cổng nên Th không nhận dạng được người đã bán ma túy cho mình. Mục đích của Th mua ma túy về để sử dụng.

Quá trình điều tra xác định Hà Công H đến nhà của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T, Nguyễn Trọng D với mục đích mua ma túy về để sử dụng nhưng chưa thực hiện được nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện T không có cơ sở để xử lý. Ngày 14/8/2023, Tòa án nhân dân huyện T đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng đối với Hà Công H.

Đối với các đồ vật, tài liệu đã thu giữ trong quá trình giải quyết vụ án được xác định như sau:

  • 01 cân điện tử, 02 dao lam và 01 mảnh dao rọc giấy, 01 bộ tẩu hút tự tạo và 10 mảnh giấy bạc thu giữ trong quá trình khám xét, các bị cáo sử dụng để phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Số tiền 1.500.000 đồng, quá trình xác minh xác định đây là tiền do các bị cáo có được từ việc bán ma túy, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • 01 điện thoại Samsung S10 màu xanh tím than thu giữ của Nguyễn Anh T, T khai sử dụng để liên lạc các nhân, không sử dụng vào việc phạm tội, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu xanh thu giữ của Nguyễn Tiến Q, đã sử dụng chiếc điện thoại trên để liên hệ với đối tượng bán ma túy nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s Plus và 01 điện thoại di động OPPO A3S màu đen màu hồng thu giữ của Nguyễn Trọng D và Hà Công H, quá trình xác minh xác định được, các đối tượng sử dụng điện thoại trên để giao dịch mua bán ma túy nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 225/CT-VKSTT ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T và Nguyễn Trọng D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm a, b khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Phạm Viết Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội D bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong Cáo trạng.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt:
    • Nguyễn Tiến Q mức án từ: 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.
    • Nguyễn Trọng D mức án từ: 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.
  • Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Nguyễn Anh T mức án từ: 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Phạm Viết Th mức án từ: 18 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.

Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 cân điện tử, 02 dao lam và 01 mảnh dao rọc giấy, 01 bộ tẩu hút tự tạo và 10 mảnh giấy bạc thu giữ trong quá trình khám xét, các bị cáo sử dụng để phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Số tiền 1.500.000 đồng, quá trình xác minh xác định đây là tiền do các bị cáo có được từ việc bán ma túy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • 01 điện thoại Samsung S10 màu xanh tím than thu giữ của Nguyễn Anh T, T khai sử dụng để liên lạc các nhân, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu xanh thu giữ của Nguyễn Tiến Q, đã sử dụng chiếc điện thoại trên để liên hệ với đối tượng bán ma túy nên cần tịch thu sung công.
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s Plus và 01 điện thoại di động OPPO A3S màu đen màu hồng thu giữ của Nguyễn Trọng D và Hà Công H, quá trình xác minh xác định được, các đối tượng sử dụng điện thoại trên để giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung công.
  • Buộc các bị cáo Q, T, D truy nộp số tiền thu lời bất chính là 15.000.000 đồng (mỗi bị cáo phải nộp 5.000.000 đồng).
  • Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:

Từ tháng 5/2023 đến ngày 17/7/2023, tại nhà của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T, Nguyễn Trọng D ở ngõ 30 đường T, xã T, huyện T, Hà Nội, Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T và Nguyễn Trọng D đã nhiều lần có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho các người nghiện để kiếm lời. Q là người mua ma túy về để T và D chia nhỏ bán lại cho người nghiện, mỗi ngày bán cho khoảng 05 đến 06 người với giá từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng/01 gói ma túy Heroin.

Hồi 16 giờ 10 phút ngày 17/7/2023, tại nhà của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T, Nguyễn Trọng D tại ngõ 30 đường T, xã T, huyện T, Hà Nội. T, Q, D đã bán trái phép cho Phạm Viết Th 0,148 gam ma túy loại Heroine. Khi Th đang cất giữ số ma túy trên ở lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ.

Khám xét tại nhà của T, Q, D, Cơ quan Điều tra thu giữ 2,157 gam ma túy Heroine và 0,048 gam ma túy Methamphetamine là ma túy do các bị cáo cất giấu với mục đích để bán kiếm lời.

Tổng số ma túy Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T và Nguyễn Trọng D mua bán là 2,305 gam ma túy Heroine và 0,048 gam ma túy Methamphetamine.

Q, T, D có sự câu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ để cùng thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định mà sinh sống bằng việc bán ma túy kiếm lời; tiền thu được từ việc bán ma túy được các bị cáo sử dụng để chi tiêu, sinh hoạt. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo là có tổ chức và có tính chất chuyên nghiệp.

Hành vi của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T và Nguyễn Trọng D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi của Phạm Viết Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này có tính chất đồng phạm nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để lượng hình cho tương xứng. Q và T cùng rủ nhau góp tiền để bán ma túy. Q là người trực tiếp liên hệ người bán ma túy để mua về bán lại và trực tiếp liên hệ với người mua ma túy; Q còn rủ D cùng tham gia bán ma túy. Q cũng là người giữ tiền thu được từ việc bán ma túy và chia lại cho T, D. Do đó, Q có vai trò cao nhất trong vụ án. T tham gia góp tiền để bán ma túy cùng Q ngay từ đầu. T cũng được chia đôi lợi nhuận với Q nên T có vai trò thứ hai, sau Q. D có vai trò thấp nhất trong vụ án.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

4.1. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Q, D, T phạm tội có tính chất chuyên nghiệp nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Q, D, Th phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép, người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã được giáo dục pháp luật, nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, có ý thức coi thường pháp luật. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định thu giữ của các bị cáo;
  • 01 cân điện tử, 02 dao lam và 01 mảnh dao rọc giấy, 01 bộ tẩu hút tự tạo và 10 mảnh giấy bạc thu giữ trong quá trình khám xét, các bị cáo sử dụng để phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Số tiền 1.500.000 đồng, quá trình xác minh xác định đây là tiền do các bị cáo có được từ việc bán ma túy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • 01 điện thoại Samsung S10 màu xanh tím than thu giữ của Nguyễn Anh T, T khai sử dụng để liên lạc các nhân, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu xanh thu giữ của Nguyễn Tiến Q, đã sử dụng chiếc điện thoại trên để liên hệ với đối tượng bán ma túy nên cần tịch thu sung công.
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s Plus và 01 điện thoại di động OPPO A3S màu đen màu hồng thu giữ của Nguyễn Trọng D và Hà Công H, quá trình xác minh xác định được, các đối tượng sử dụng điện thoại trên để giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung công.
  • Truy thu đối với các bị cáo Q, T, D số tiền thu lời bất chính là 15.000.000 đồng, mỗi bị cáo phải nộp 5.000.000 đồng.

Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Án phí và quyền kháng cáo:

Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Anh T và Nguyễn Trọng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Viết Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1.1. Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.

1.2. Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.

1.3. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Phạm Viết Th 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín trên các mép có các chữ ký của Phạm Viết Th, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, cán bộ CAX T Lê Văn Sang (bên trong còn lại 0,112 gam ma túy heroin theo quyết định chuyển vật chứng số 167 ngày 30/11/2023).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín trên các mép có các chữ ký của Nguyễn Anh T, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, cán bộ CAH T Lê Việt Anh (bên trong còn lại 0,475 gam ma túy heroin theo quyết định chuyển vật chứng số 167 ngày 30/11/2023).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín trên các mép có các chữ ký của Nguyễn Tiến Q, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, cán bộ CAH T Lê Việt Anh (bên trong còn lại 1,169 gam ma túy heroin theo quyết định chuyển vật chứng số 167 ngày 30/11/2023).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín trên các mép có các chữ ký của Nguyễn Tiến Q, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, cán bộ CAH T Lê Việt Anh (bên trong còn lại 0,031 gam ma túy methamphetamine và 0,031 gam ma túy heroin theo quyết định chuyển vật chứng số 167 ngày 30/11/2023).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 hộp niêm phong dán kín trên các mép có các chữ ký của Nguyễn Trọng D, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, cán bộ CAH T Lê Việt Anh (bên trong còn 0,205 gam ma túy heroin, 01 cân điện tử, 02 dao lam, 01 mảnh dao dao dọc giấy đều dính ma túy heroin và 10 mảnh giấy bạc theo quyết định chuyển vật chứng số 167 ngày 30/11/2023).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 niêm phong dán kín trên các mép có các chữ ký của Nguyễn Trọng D, Nguyễn Anh T và Nguyễn Tiến Q, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, và dấu đỏ của CAH T (bên trong một bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy methamphetamine theo quyết định chuyển vật chứng số 167 ngày 30/11/2023).
  • Tịch thu sung công 01 điện thoại di động oppo A3S tạm giữ của Hà Công H màu đen có số Sim 0973604189 đã qua sử dụng, vỡ góc phía dưới bên phải màn hình (Không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • Tịch thu sung công 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 promax màu xanh lắp sim số 0962252598 đã qua sử dụng (mật khẩu 0292) (nứt mặt kính phía trước, hỏng camera sau, vỡ loa trước) (Không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • Trả lại cho Nguyễn Anh T 01 điện thoại di động samsung S10 màu xanh tím than đã qua sử dụng, lắp sim số 0563569686 (mật khẩu 1256) (Không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • Tịch thu sung công 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6s plus màu hồng lắp sim số 0923811963 đã qua sử dụng (mật khẩu 102000) (Không kiểm tra chất lượng bên trong).

Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/12/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng theo ủy nhiệm chỉ số 117 lập ngày 19/12/2023.

Truy thu đối với các bị cáo Q, T, D số tiền thu lời bất chính là 15.000.000 đồng, mỗi bị cáo phải nộp 5.000.000 đồng.

4. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • TAND Thành phố Hà Nội;
  • VKSND huyện T;
  • CA huyện T;
  • THADS huyện T;
  • Bị cáo; Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN VĂN THẮNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 223/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger