Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND Q HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2023/HS-ST

Ngày: 24/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thịnh, ông Nguyễn Ngọc Hấn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Lương Đình Quý- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Trại tạm giam số 01 xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 219/2023/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Phương L - Giới tính: Nữ - Sinh năm: 1976

Tên gọi khác : Mít

HKTT và nơi ở hiện nay: A H, phường L, quận H, Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ học vấn: 6/12

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Họ tên cha: Đỗ Viết P (Đã chết)

Họ tên mẹ: Đỗ Thị Đ (Đã chết)

Tiền án, tiền sự: 03 tiền án.

  • - Ngày 28/10/2011, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (AS: 437/HSST). Ra trại ngày 27/4/2014 – Án tích chưa xóa.
  • - Ngày 16/7/2015, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (AS: 101/HSST) – Án tích chưa xóa.
  • - Ngày 29/02/2016, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 32 tháng tù của Bản án số 101/2015/HSST ngày 16/7/2015 của Tòa án nhân dân quận Long Biên buộc Đỗ Phương L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 9 năm 8 tháng tù (AS: 78/HSST). Ra trại ngày 19/7/2022 – Án tích chưa xóa.

Bắt người phạm tội quả tang ngày 27/7/2023.

Tạm giữ : 27/7/2023 - Tạm giam : 02/8/2023.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Nguyễn Duy V, SN : 1986
  • HKTT : số A ngõ G H, C, H, Hà Nội
  • (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/7/2023, tổ công tác Công an phường H trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Đỗ Phương L và Nguyễn Duy V (Sinh năm: 1986, HKTT: số A ngõ G H, phường C, quận H, Hà Nội) đang đứng trước cửa số B Ngõ H, phường H, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, L tự nguyện giao nộp 02 túi ni lông kích thước 1,5x2cm và 2x2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng từ trong lòng bàn tay trái và khai nhận là ma túy “đá” mang đi bán cho V để kiếm lợi. Ngoài ra, L giao nộp 04 túi ni lông kích thước 3x3cm, 1,5x2cm, 2x2,5cm, 3x3cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng lấy từ trong túi quần bên phải và khai nhận là ma túy “đá” L mang theo để bán nếu có khách hỏi mua. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa L và V về trụ sở Công an phường H để giải quyết.

Thu giữ của Đỗ Phương L: 01 điện thoại Iphone 7Plus – 32GB màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng) kèm sim số 0374286844. Thu giữ của Nguyễn Duy V: 01 điện thoại Redmi Note 9 màu xanh (đã cũ, đã qua sử dụng), không có sim (BL: 22; 89).

Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động thu giữ của Đỗ Phương L và Nguyễn Duy V phát hiện nhiều tin nhắn có nội dung trao đổi mua bán ma túy (BL: 38 – 90).

Tiến hành khám xét chỗ ở của Đỗ Phương L tại số A H, phường L, quận H, Hà Nội không phát hiện, thu giữ đồ vật liên quan đến ma túy (BL: 42 – 43).

Tại bản Kết luận giám định số 5196/KL-HTHS ngày 04/8/2023 của Phòng Kỹ thuận hình sự - C kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,261 gam. Tinh thể màu trắng bên trong 04 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,065 gam”.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Phương L khai nhận: Tối ngày 25/7/2023, L đi đến trước cửa số B H, phường C, quận H, Hà Nội tìm mua ma túy để bán kiếm lợi. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 1.800.000 đồng ma túy “đá” gồm 02 túi ni lông to và 04 túi ni lông nhỏ để trong 01 vỏ bao thuốc lá. Mua được ma túy, L lấy các túi chứa ma túy ra rồi để vào trong túi quần phía trước bên phải và đi về nhà. Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 26/7/2023, L đang làm thuê tại số A H, phường H, quận H, Hà Nội thì có người bạn xã hội tên “Béo” (tức Nguyễn Duy V) liên lạc qua Z hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”. L đồng ý và hẹn giao ma túy tại số C Ngõ H, phường H, quận H, Hà Nội. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/7/2023, L đi bộ đến trước số B Ngõ H và liên lạc với V để giao ma túy. Khi L và V vừa gặp nhau, chưa kịp giao dịch mua bán ma túy thì bị tổ công tác của Công an phường H kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Nếu bán thành công 02 túi ni lông nhỏ chứa ma túy “đá” cho V thì L sẽ hưởng lợi 100.000 đồng. Ngoài ra L khai mang theo 04 túi ni lông to chứa ma túy “đá” để nếu có khách hỏi mua thì sẽ bán với giá 500.000 đồng/ túi (BL: 68 – 84).

Nguyễn Duy V khai phù hợp với lời khai của Đỗ Phương L và việc V thỏa thuận mua 500.000 đồng tiền ma túy “đá” của L. Khi gặp nhau, cả hai chưa kịp trao đổi mua bán ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ (BL 93 – 102). Kết quả xét nghiệm Nguyễn Duy V âm tính với chất ma túy. Vì vậy cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Duy V.

Về đối tượng nam giới bán ma túy cho Đỗ Phương L do L khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại, việc giao nhận ma túy là trực tiếp nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác mình làm rõ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 217/CT-VKS ngày 28/9/2023 (BL: 120), Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Đỗ Phương L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận do hám lợi nên khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/7/2023, tại trước cửa số B ngõ H, phường H, quận H, TP Hà Nội, bị cáo có hành vi cất giấu tổng cộng 1,326 gam ma túy loại methaphetamin nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được và Kết luận giám định của Phòng K - Công an thành phố T. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân của bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm.

[3] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội và đường lối xử lý nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này nhưng vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Bởi vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Về tang vật:

  • + Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 điện thoại di động Iphone 7 của bị cáo sử dụng để liên lạc trong việc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung công, 01 sim 0374286844 kèm điện thoại nói trên không còn giá trị sử dụng cho tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9 màu xanh (đã cũ, đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Duy V, có sử dụng để liên lạc gọi cho bị cáo mua ma túy nên tịch thu sung công;

[7] Các vấn đề khác:

  • - Đối với Nguyễn Duy V chưa có hành vi trao đổi mua bán ma túy với bị cáo, xét nghiệm âm tính với ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.
  • - Đối tượng bán ma túy do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên HĐXX không giải quyết.

[8] Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân bị cáo, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt, về hình phạt bổ sung và về các vấn đề khác là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Phương L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
    Xử phạt bị cáo Đỗ Phương L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/7/2023.
  3. Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy 0,261 gam ma tuý loại Methaphetamin (PC09 trích mẫu giám định 0,024 gam, còn lại 0,237 gam) được chứa trong 02 phong bì dán kín, có ký niêm phong.
    • - Tịch thu tiêu hủy 1,065 gam ma tuý loại Methaphetamin (PC09 trích mẫu giám định 0,036 gam, còn lại 1,029 gam) được chứa trong 01 phong bì dán kín, có ký niêm phong.
    • - Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus- 32GB màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9, màu xanh (đã cũ, đã qua sử dụng).
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại (đã cũ, đã qua sử dụng) không còn giá trị sử dụng.

    (Tang vật được mô tả cụ thể và lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 20/4/2023).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKS nhân dân quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 223/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm q khoản 2 điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger