Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2024/HS-ST

Ngày: 24/ 5/ 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Luận
  2. Ông Phạm Văn Tiến

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên

- Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

Ông Nguyễn Thế Q – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa;

Ông Nguyễn Văn Q1 – Kiểm sát viên - VKSND thành phố Thanh Hóa;

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu T - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa và điểm cầu thành phần - Trụ sở Công an thành phố T, xét xử sơ thẩm trực tuyến, vụ án hình sự, thụ lý số 247/ 2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 252/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1988; Nơi cư trú: 0 L, phường B, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: 2 T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Q: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Con ông Phạm Anh C; Con bà Nguyễn Thị L; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 25/8/2011 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 08 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; Ngày 11/9/2012 Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 17/5/2019; Ngày 07/9/2020 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án phạt tù xong ngày 18/01/2023.

Tạm giữ từ ngày 27/01/2024 đến 02/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, Tổ công tác đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường Đ, phường T tuần tra kiểm soát tại khu vực trước số nhà H N, phường Đ, thành phố T, tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Tuấn A, phát hiện thu giữ từ tay trái Tuấn A 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước khoảng (2x1,6)cm bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu đỏ. Tuấn A khai nhận là ma túy loại hồng phiến cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã tuyên bố bắt quả tang Tuấn A về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy, Tuấn A khai: Khoảng 15 giờ ngày 27/01/2024 Tuấn A đến khu vực bãi đất trống gần chung cư H, phường L, thành phố T gặp và mua được 05 viên hồng phiến của người nam giới tên Q2 (không biết địa chỉ, lai lịch) đem về mục đích để sử dụng thì bị công an phát hiện bắt giữ.

Kết luận giám định số 473/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: 05 viên nén màu đỏ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,529g.

Việc thu giữ đồ vật; xử lý vật chứng:

01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành. Tất cả được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H, Hoàng Trung H1, Lê Đình P và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn A đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập.

Tại bản cáo trạng số 180 /CT-VKSTPTH ngày 22/4/ 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đ1 o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38. Khoản 1, Đ1 a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Đ1 a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

  • - Tuyên bố: Nguyễn Tuấn A phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • - Mức hình phạt Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, đề nghị áp dụng đối với bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
  • - Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện VKS.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[ 2] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, tại khu vực trước số nhà H N, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,529g ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự ( Với tình tiết định khung “ Tái phạm nguy hiểm”).

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa, truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế và ngoài ra còn là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội.

Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng và hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần xử lý nghiêm.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không

[5] Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong ma túy niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định của phòng K, Công an tỉnh T là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó cần áp dụng Khoản 1, Đ1 a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Tuấn A 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/01/2024 ( ngày tạm giữ).

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn lại là toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định của phòng K, Công an tỉnh T;

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 151/ 2024/ THA ngày 10/ 5/ 2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 223/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger