|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 223/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-8-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Mạnh
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hương – Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đồng Văn L, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Hoa P, sinh năm 1989; nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đồng Văn L trình bày:
A và chị Nguyễn Hoa P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/01/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với bố mẹ anh L tại xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Đến năm 2014, anh L đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Mấy tháng sau, chị P cũng đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Thời gian đầu, anh L và chị P vẫn liên lạc được với nhau. Sau khoảng hơn 01 tháng, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung do anh L nghi ngờ chị P có quan hệ ngoại tình trong thời gian anh L đi xuất khẩu lao động, dẫn tới vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị P thay đổi số điện thoại, không còn liên lạc, không còn quan tâm, trách nhiệm đến anh L và con chung. Hiện nay, anh L biết chị P vẫn đang sinh sống ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể của chị P. Xét thấy vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014, hai bên không còn liên lạc, không còn tình cảm, nên anh L yêu cầu ly hôn chị P.
Về con chung: Anh L1 và chị P có 01 con chung là Đồng Hoàng A, sinh ngày 10/5/2013. Anh L1 yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh Linh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Hoa P: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo, niêm yết đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu bố mẹ đẻ của chị P là ông Nguyễn Đức T và bà Phạm Thị L2 cung cấp địa chỉ của chị P. Thực hiện việc uỷ thác thu thập chứng cứ của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã lấy lời khai của ông T tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/7/2024 như sau: Cuối năm 2014 chị P đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, đến thời điểm hiện nay chị P vẫn đang sinh sống và làm việc ở Đài Loan. Chị P thường xuyên liên lạc với vợ chồng ông T qua điện thoại nhưng sử dụng nhiều số điện thoại khác nhau. Vợ chồng ông T không biết địa chỉ cụ thể của chị P. Gần đây chị P gọi điện thoại về, ông T đã thông báo cho chị P biết về việc anh L1 khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con. Chị P đã phản hồi lại là đồng ý ly hôn và đồng ý để ông bà nội và anh L1 tiếp tục nuôi 01 con chung là cháu Đồng Hoàng A, không đề nghị giải quyết về tài sản chung. Ông T đồng ý nhận các văn bản tố tụng, bản án, quyết định của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng thay cho chị P và chịu trách nhiệm thông báo cho chị P biết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể: Vắng mặt tại tất cả các lần Tòa án triệu tập, không lý do.
Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn cư trú tại thành phố Hải Phòng. Tại Công văn số 10052/QLXNC-P3 ngày 16/5/2024 về việc cung cấp thông tin XNC của Cục Q cung cấp: Chị P đã xuất cảnh ngày 20/10/2014, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, không có thông tin về nước đến. Như vậy, xác định bị đơn đang cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Bố, mẹ của bị đơn xác nhận vẫn liên lạc được với bị đơn. Toà án đã yêu cầu bố, mẹ của bị đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn đến lần thứ hai nhưng không cung cấp, được coi là cố tình giấu địa chỉ. Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung, theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
- Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt, không lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đồng Văn L và chị Nguyễn Hoa P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Anh L1 và chị P đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Hai bên không liên lạc, không còn quan tâm trách nhiệm đến nhau, không còn tình nghĩa vợ chồng. Xét hôn nhân của anh L1 và chị P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L1.
- Về con chung: Anh L1 và chị P có 01 con chung là Đồng Hoàng A, sinh ngày 10/5/2013. Xét chị P đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, giáo dục con. Mặt khác, cháu Hoàng A có nguyện vọng ở với bố. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh L1. Về cấp dưỡng nuôi con, anh L1 không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Về tài sản chung: Anh Linh không yêu cầu giải quyết, chị P không có quan điểm, nên không xét.
- Về án phí: Anh L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, khoản 1 Điều 238, các điều 273, 469, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đồng Văn L.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đồng Văn L được ly hôn chị Nguyễn Hoa P.
-
Về con chung: Giao con chung Đồng Hoàng A, sinh ngày 10/5/2013 cho anh Đồng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: Anh Đồng Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh L đã nộp, theo Biên lai số 0000321 ngày 16/4/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Anh Đồng Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Chị Nguyễn Hoa P có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |
Bản án số 223/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 223/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
