Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 223/2024/DS-PT

Ngày 23-4-2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,

yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Vũ Ngọc Huynh
Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 548/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2023/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 580/2024/QĐPT-DS ngày 26 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Ông Lê Thành L, sinh năm 1937; Cư trú tổ E, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.
    2. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1944; Cư trú tổ E, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Kim O, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn T, sn 1982. Nơi cư trú ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang. Trụ sở: khóm T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn, trình bày:

Phần đất ông L bà A đứng tên quyền sử dụng đất có nguồn gốc là ông bà để lại sử dụng từ khoảng năm 1980 cho đến nay, do là đất cây lâu năm nên trước đây trồng chuối, sau đó phá bỏ trồng. Trước đây khi có đoàn đo đạc đại trà đến đo đất thì không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất được vì phía ông Đoàn Xuân H không thống nhất ranh đến năm 2006 các bên thống nhất nên mới kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 diện tích 3.845,6m² tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Thanh L1 và bà Nguyễn Thị A. Quá trình sử dụng phần đất chỗ tranh chấp là đất vườn chuối, mồ mã gia đình vẫn sử dụng và cải tạo để trồng xoài, đến năm 2021 thì ông Đoàn Văn T tự ý vào trồng cỏ nên mới xảy ra tranh chấp cho đến nay. Nay yêu cầu ông Đoàn Văn T trả lại phần đất lấn chiếm diện tích theo đo đạc thực tế là 48,6m² (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ ngày 27/6/2022) nằm trong phần đất diện tích 3.845,6m² thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 22 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; trước đây do không xác định diện tích thực tế nên yêu cầu ngang 2m dài 50m = 100m². Nay rút lại phần yêu cầu đối với diện tích là 100m² - 48,6m² = 51,4m².

Bị đơn ông Đoàn Văn T trình bày: nguồn gốc đất là của ông bà để lại ông là người được tặng cho lại. Quá trình ông sử dụng vẫn ổn định cho đến nay, đến khoảng năm 2021 ông chuyển nhượng một phần đất cho công ty T1, qua đo đạc thì mới xác định phần đất tranh chấp là của ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây ông sử dụng trồng lúa sau đó mới cải tạo lên vườn để sử dụng cho đến nay. Nay không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn vì phần đất mà ông đang sử dụng mà phía nguyên đơn yêu cầu là nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp số CH02650 ngày 24/03/2014. Ngoài ra ông có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 diện tích 3.845,6m² tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Thanh L1 và bà Nguyễn Thị A.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C trình bày: ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00620nB ngày 05/12/2006, diện tích 4746,4m² đất ở nông thôn và đất trồng cây hàng năm, thuộc tờ bản đồ số 22, thửa đất số 30 đất tọa lạc tại ấp A, xã A. Ngày 07/02/2012 ông L bà A tách thửa số 30 thành thửa số 37 với diện tích 768,2m² (ONT, CLN) chuyển quyền cho bà Nguyễn Thị H1, diện tích còn lại là 3978,2m² (ONT, CLN); ngày 11/01/2014 ông L bà A tiếp tục chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn D bà Trần Thị Ê diện tích 132,6m², diện tích còn lại 3845,6m² của ông L bà A được in mới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 ngày 18/02/2014. Liên quan đến yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 ngày 18/02/2014 mà Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Thành L bà Nguyễn Thị A Ủy ban nhân dân huyện C đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2023/DSST ngày 28-07-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

Căn cứ vào khoản 2 khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, 166 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A.
  2. Buộc ông Đoàn Văn T có trách nhiệm trả lại phần đất có diện tích 48,6m² tại các điểm 10, 11, 12, 13 (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ ngày 27/6/2022) nằm trong phần đất diện tích 3.845,6m² tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 22 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 18/02/2014 cho ông Lê Thành L và bà Nguyễn Thị A.

    (Sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng Đ lập ngày 27/06/2022 là phần không tách rời của Bản án).

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A đối với yêu cầu ông Đoàn Văn T trả phần đất diện tích 51,4m².
  4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Văn T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 18/02/2014 cho ông Lê Thành L và bà Nguyễn Thị A.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí dân sự và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08-08-2023, bị đơn là ông Đoàn Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Đoàn Văn T trình bày: tòa án cấp sơ thẩm không đo vẽ đúng với thực tế diện tích đất, đúng ra cần phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn để xác định đất của ai. Ông cũng không nhớ diện tích đất thuộc quyền sử dụng đất của ông, không nhớ số thửa và tại cấp sơ thẩm ông giao luật sư nhưng luật sư không đến tham dự phiên tòa.

Đại diện theo ủy quyền của ông L, bà A là bà Lê Thị Kim O trình bày: phần diện tích mà ông T lấn chiếm là của ông L, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có các hộ kế bên ký giáp ranh, trong đó có chữ ký của ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đoàn Văn T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên toà phát biểu:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về hình thức: đơn kháng cáo của ông Đoàn Văn T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2006 và chuyển nhượng cho người khác là trước thời điểm bị đơn được tặng cho và cấp quyền sử dụng đất. Qua đo đạc phần đất tranh chấp thì diện tích 48,6m² tại các điểm 10, 11, 12, 13 là thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Bị đơn không cung cấp chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp là của mình. Do đó, nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ. Việc bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn, hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đúng trình tự, đúng đối tượng, bị đơn không chứng minh được 48,6m² thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới cho yêu cầu của mình, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: UBND huyện C có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về hình thức: đơn kháng cáo của ông Đoàn Văn T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

  3. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Đoàn Văn T, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
    1. Đối với kháng cáo yêu cầu nguyên đơn trả 48,6 m² đất:
    2. Căn cứ theo Sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C đo vẽ ngày 27/06/2022, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 cấp cho ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A thì đủ cơ sở để xác định phần diện tích 48,6 m² nằm hoàn toàn trong thửa đất số 30 tờ bản đồ 22 ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang chứ không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02650 cấp cho ông T.

      Phần đất tranh chấp do nguyên đơn sử dụng, trong quá trình sử dụng đất phía ông L bà A đã thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính với Nhà nước nên được cấp quyền sử dụng đất theo hồ sơ cấp quyền sử dụng đất thì tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới khu đất ngày 15 tháng 8 năm 2000 được các hộ tứ cận ông Đoàn Sơn H2, Đoàn Văn M ký tên xác nhận. Ông T là người sử dụng đất giáp với đất của ông L bà A nguồn gốc là nhận tặng cho lại và được cấp quyền sử dụng đất vào năm 2014. Người làm chứng ông Đoàn Sơn H2 và ông Đoàn Văn M đều xác nhận khi ông L bà A lập thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì có ký tên xác nhận ranh đất. Tại Công văn số 533/UBND-NC ngày 16 tháng 03 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện C đã xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A là đúng đối tượng và trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Vì vậy quyền sử dụng đất của ông L bà A được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình, cho nên ông L bà A yêu cầu ông Từ trả lại diện tích lấn chiếm 48,6m² nằm trong diện tích 3.845,6m² thuộc thửa 30, tờ bản đồ số 22 tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Thanh L1 và bà Nguyễn Thị A là có căn cứ, đúng pháp luật.

    3. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn: việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Thanh L1, bà Nguyễn Thị A là đúng trình tự pháp luật.
    4. Ông Đoàn Văn T kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ nào mới cho yêu cầu kháng cáo của mình, cho nên kháng cáo của ông Đoàn Văn T là không có căn cứ để chấp nhận.

  4. Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Đoàn Văn T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đoàn Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ nghị nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đoàn Văn T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DSST ngày 28-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Căn cứ vào khoản 2 khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, 166 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A.
  2. Buộc ông Đoàn Văn T có trách nhiệm trả lại phần đất có diện tích 48,6m² tại các điểm 10, 11, 12, 13 (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ ngày 27/6/2022) nằm trong phần đất diện tích 3.845,6m² tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 22 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 18/02/2014 cho ông Lê Thành L và bà Nguyễn Thị A.

    (Sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng Đ lập ngày 27/06/2022 là phần không tách rời của Bản án).

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A đối với yêu cầu ông Đoàn Văn T trả phần đất diện tích 51,4m².
  4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Văn T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00620 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 18/02/2014 cho ông Lê Thành L và bà Nguyễn Thị A.
  5. Về chi phí tố tụng: ông Đoàn Văn T phải trả lại cho ông Lê Thành L, bà Nguyễn Thị A số tiền 3.285.280đ.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Đoàn Văn T phải chịu 300.000đ được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0013091 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Đoàn Văn T phải chịu 300.000đ nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000376 ngày 17-8-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND CC tại TP Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự (3);
  • - Lưu, 5 VP, 01 HS (DTTP 15)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Tô Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 223/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger