|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 223/2024/HS-ST Ngày 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Cao Thị Hạ - Nguyên Cán bộ Đoàn Thanh niên
Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 200/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Ninh Đức H, sinh ngày 02/5/1999 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Ninh Văn D và bà Vũ Thị Y; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 26/01/2024 đến ngày 02/02/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại:
- + Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 2004, nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
- + Chị Nguyễn Hoàng L, sinh năm 2004, nơi cư trú: Tổ A phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
- + Chị Nguyễn Trần Ngọc T, sinh năm 2003, nơi cư trú: Số C H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
- + Cháu Te H1, sinh ngày 20/4/2007, địa chỉ: M, T, C; vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Te H1: Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1977, nơi cư trú: Park 6-27/12 P, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội (là mẹ đẻ của bị hại); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/9/2024, chị Nguyễn Thị Thu H2 (sinh năm 1977, trú tại: P P, M, H, Hà Nội) trình báo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H về việc con gái chị H2 là Te H1, sinh ngày 20/4/2007, quốc tịch: Indonesia, sống tại: T, Canada bị một nam giới đe dọa phát tán video nhạy cảm để chiếm đoạt tiền.
Quá trình điều tra, xác định: Do cần tiền tiêu xài nên Ninh Đức H nảy sinh ý định dùng những video nhạy cảm để đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản của các bạn gái. Để thực hiện ý định trên, tại Phòng 401, R, địa chỉ LK09 - 18, Khu H, số A đường C, T, Hồ N, Hải Phòng, H đã sử dụng tài khoản "ZiinZiin88" trên ứng dụng Tinder tìm các chủ tài khoản là phụ nữ để tán tỉnh. Khi thấy các đối tượng đã phát sinh tình cảm, H đề nghị liên lạc qua tài khoản Instagram tên "Anydy Nguyen" được cài đặt trên điện thoại S 20 Ultra 5G của H và chat sex, gọi video call (gọi điện có hình ảnh). H đã bí mật bật ứng dụng tự quay lại màn hình ở điện thoại ghi lại toàn bộ cuộc chat sex rồi cắt những đoạn video ngắn có chứa những hình ảnh nhạy cảm (khỏa thân hay rõ bộ phận sinh dục) gửi cho các bị hại để đe dọa, yêu cầu các bị hại chuyển tiền nếu không sẽ phát tán các hình ảnh đó trên mạng xã hội Facebook. H sử dụng tài khoản “Wolion” trên ứng dụng Zalo để gửi các video nhạy cảm, nhắn tin yêu cầu các bị hại chuyển tiền đến các tài khoản của H và một số tài khoản do H chỉ định nhằm chiếm đoạt tài sản.
Với cách thức và thủ đoạn trên, từ ngày 27/02/2023 đến ngày 17/01/2024, H đã làm quen, chat sex rồi dùng những video nhạy cảm đe dọa để uy hiếp tinh thần và chiếm đoạt của 04 bị hại, tổng số tiền là: 80.724.000 đồng. Cụ thể như sau:
- Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị P, sinh năm 2004, trú tại: TDP H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa tổng số tiền 6.924.000 đồng.
Chị P đã chuyển 10 lần từ tài khoản số 35849676869468, mở tại Ngân hàng M và tài khoản số [...], mở tại ngân hàng T3, chủ tài khoản là Nguyễn Thị P đến 07 tài khoản khác nhau do H chỉ định. Cụ thể:
- Các ngày 27/01/2023, 15/5/2023, 18/6/2023 và 21/11/2023, chị P đã chuyển cho H số tiền 1.000.000 đồng/lần.
- Ngày 11/03/2023, chị P đã chuyển cho H số tiền 450.000 đồng.
- Ngày 11/4/2023, chị P đã chuyển cho H số tiền 540.000 đồng.
- Ngày 24/4/2023, chị P đã chuyển cho H số tiền 234.000 đồng.
- Các ngày 09/6/2023, 15/9/2023, chị P đã chuyển cho H số tiền 600.000 đồng/lần.
- Ngày 04/01/2024, chị P đã chuyển cho H số tiền 500.000 đồng.
- Chiếm đoạt của chị Nguyễn Hoàng L, sinh năm 2004, trú tại: Tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình số tiền 18.300.000 đồng.
Chị L đã chuyển cho H 17 lần từ các tài khoản số [...], mở tại Ngân hàng M; tài khoản số 1008802877367730, mở tại ngân hàng V; tài khoản số 2122391218, mở tại ngân hàng B, chủ tài khoản đều là Nguyễn Hoàng L đến 10 tài khoản khác nhau do H chỉ định. Cụ thể:
- Ngày 21/4/2023, chị L đã chuyển cho H 02 lần, tổng số tiền 1.200.000 đồng.
- Ngày 22/4/2023, chị L đã chuyển cho H số tiền 800.000 đồng.
- Ngày 15/5/2023, chị L đã chuyển cho H số tiền 4.000.000 đồng.
- Các ngày 05/6/2024, 16/6/2024, 20/6/2024, 15/12/2023, chị L đã chuyển cho H số tiền 1.000.000 đồng/lần.
- Các ngày 27/5/2023, 29/6/2023, 15/11/2023, chị L đã chuyển cho H số tiền 500.000 đồng/lần.
- Ngày 10/7/2023, chị L đã chuyển cho H số tiền 2.000.000 đồng.
- Ngày 24/7/2023, chị L đã chuyển cho H 02 lần, tổng số tiền 3.200.000 đồng.
- Ngày 26/10/2023, chị L đã chuyển cho H số tiền 600.000 đồng.
- Ngày 25/11/2023, chị L đã chuyển cho H số tiền 300.000 đồng.
- Ngày 17/01/2024, chị L đã chuyển cho H số tiền 700.000 đồng.
- Chiếm đoạt của chị Nguyễn Trần Ngọc T, sinh năm 2003, trú tại: C H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam số tiền 7.500.000 đồng.
Chị T đã chuyển cho H 09 lần từ các tài khoản số 5601778898, mở tại ngân hàng B; tài khoản số 77370028520003, mở tại ngân hàng M; tài khoản Zalo Pay đến 04 tài khoản do H chỉ định. Cụ thể:
- Các ngày 03/8/2023, 04/8/2023, 21/8/2023, 109/2023 và 30/10/2023, chị T chuyển cho H số tiền 500.000 đồng/lần.
- Các ngày 12/8/2023, 11/10/2023 và 15/11/2023, chị T chuyển cho H số tiền 1.000.000 đồng/lần.
- Ngày 17/12/2023, chị T chuyển cho H số tiền 2.000.000 đồng.
- Chiếm đoạt của Te H1, sinh ngày 20/4/2007, quốc tịch: Indonesia, sống tại: T, Canada số tiền 48.000.000 đồng.
Hillary đã nhờ người chuyển tiền cho H 08 lần từ các tài khoản số 10520003483012, mở tại T3 của chị Trịnh Thị Bích T1; tài khoản số 0071003322285, mở tại V1 của chị Nguyễn Thị Thu H2 và tài khoản 00638111528, mở tại ngân hàng T4 của chị Trần Thị H3 đến 06 tài khoản khác nhau do H chỉ định. Cụ thể:
- Ngày 28/9/2023, H1 chuyển cho H số tiền 30.000.000 đồng.
- Các ngày 01/10/2023 và 02/10/2023, H1 chuyển cho H số tiền 5.000.000 đồng/lần.
- Các ngày 20/10/2023, 26/11/2023 và 15/01/2024, H1 chuyển cho H số tiền 2.000.000 đồng/lần.
- Các ngày 10/12/2023 và 23/12/2023, H1 chuyển cho H số tiền 1.000.000 đồng/lần.
Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H tiến hành khám xét nơi ở của Ninh Đức H, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã thu giữ của chị Nguyễn Thị Thu H2 01 USB chứa 01 đoạn video chat sex giữa đối tượng và Te H1; thu giữ của Ninh Đức H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 Ultra 5G màu đen, lắp sim: 0862555582.
Tại Kết luận giám định 8393/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của V2 - Bộ C2 xác định: Tệp video gửi giám định ghi lại nội dung hình ảnh được phát trên màn hình của thiết bị (điện thoại), do vậy không xác định được nội dung hình ảnh được ghi lại trong tệp video gửi giám định có bị cắt ghép chỉnh sửa hay không.
Tại Kết luận giám định 1338/KL-KTHS ngày 14/5/2024 của Phòng K - Công an thành phố H xác định: Tìm thấy 2167 cuộc gọi, 06 ghi chú, 367 tin nhắn tức thì, 91 cuộc hội thoại Facebook, 83 cuộc hội thoại Messenger, 05 cuộc hội thoại Instagam, 86 cuộc hội thoại Native Messages, 02 cuộc hội thoại WhatsApp, 251 cuộc hội thoại Zalo, 04 tập tin video được lưu trong máy.
Tại Cơ quan điều tra, Ninh Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của các bị hại Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Trần Ngọc T, Nguyễn Thị P và Nguyễn Thị Thu H2 - đại diện của cháu Te H1; phù hợp với lời khai của những người liên quan trong vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ, nội dung kết luận giám định, dữ liệu điện thoại, tài liệu giao dịch ngân hàng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về xử lý vật chứng: Chuyển 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 Ultra 5G màu đen, lắp sim: 0862555582 thu giữ của H đến Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu H2 yêu cầu H trả lại số tiền 48.000.000 đồng. Chị Nguyễn Hoàng L yêu cầu H trả lại số tiền 18.300.000 đồng. Chị Nguyễn Trần Ngọc T yêu cầu H trả lại số tiền 7.500.000 đồng. Chị Nguyễn Thị P yêu cầu H trả lại số tiền 6.924.000 đồng. Ninh Đức H đồng ý với yêu cầu của các bị hại, gia đình H đã trả số tiền 5.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Thu H2, chưa trả tiền cho chị Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Trần Ngọc T, Nguyễn Thị P.
Tại Cáo trạng số 208/CT-VKSHP-P3 ngày 01/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Ninh Đức H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện của bị hại cháu Te H1 là chị Nguyễn Thị Thu H2 rút yêu cầu bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng d khoản 2 Điều 170, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ninh Đức H từ 05 đến 06 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 Ultra 5G màu đen, lắp sim: 0862555582 của bị cáo Ninh Đức H.
Trình bày lời nói sau cùng trước khi nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt của các bị hại: Tại phiên tòa các bị hại Nguyễn Thị P, Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Trần Ngọc T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị hại cháu T2 Hillary vắng mặt nhưng có người đại diện hợp pháp là chị Nguyễn Thị Thu H2 có mặt. Xét, việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử bị cáo cũng như việc giải quyết về trách nhiệm dân sự của bị cáo. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
- Về nội dung:
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; vật chứng thu giữ, hình ảnh trích xuất từ camera,... cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Từ ngày 27/02/2023 đến ngày 17/01/2024, do cần tiền tiêu xài nên Ninh Đức H đã làm quen các bị hại, gọi điện video và quay lại màn hình điện thoại những cuộc gọi video có hình ảnh nhạy cảm của bị hại, sau đó dùng những hình ảnh này để uy hiếp tinh thần yêu cầu các bị hại chuyển tiền cho bị cáo. Hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại Điều 170 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Ninh Đức H đã có hành vi dùng những hình ảnh nhạy cảm để uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại, cụ thể: Bị cáo đã yêu cầu bị hại Te H chuyển số tiền là 5000 USD. Bị hại Te H1 đã chuyển tổng số 08 lần, tổng cộng là 48.000.000 đồng. Bị cáo đã yêu cầu chị Nguyễn Hoàng L chuyển 1000 USD, chị L đã chuyển khoản 17 lần với tổng số tiền là 18.300.000 đồng. Bị cáo đã yêu cầu chị Nguyễn Thị Phương C1 7.000.000 đồng, chị P đã chuyển khoản 10 lần với tổng số tiền là 6.924.000 đồng. Bị cáo đã yêu cầu chị Nguyễn Trần Ngọc T chuyển 10.000.000 đồng, chị T đã chuyển khoản 09 lần với số tiền 7.500.000 đồng. Tổng số tiền Ninh Đức H chiếm đoạt của các bị hại là 80.724.000 đồng. Do vậy, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Ninh Đức H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 04 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo đã bồi thường 05 triệu đồng cho bị hại Te Hillary, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại T5 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt: Xét thấy, trong thời gian gần đây xuất hiện nhiều thủ đoạn tương tự trên không gian mạng để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo vừa xâm phạm đến tài sản vừa xâm phạm đến tinh thần, danh dự của bị hại, nên cần xét xử nghiêm đối với bị cáo. Căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, chị Nguyễn Thị Thu H2 yêu cầu H trả lại số tiền 48.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã trả số tiền 5.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Thu H2, tại phiên tòa chị H2 đã rút yêu cầu bồi thường đối với bị cáo. Xét việc rút yêu cầu của người đại diện hợp pháp của cháu Te H1 là tự nguyện nên cần chấp nhận. Chị Nguyễn Hoàng L yêu cầu H trả lại số tiền 18.300.000 đồng. Chị Nguyễn Trần Ngọc T yêu cầu H trả lại số tiền 7.500.000 đồng. Chị Nguyễn Thị P yêu cầu H trả lại số tiền 6.924.000 đồng. Xét yêu cầu của các bị hại là có căn cứ nên buộc bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Trần Ngọc T và Nguyễn Thị P.
[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ của bị cáo Ninh Đức H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 Ultra 5G màu đen. Xét, đây là chiếc điện thoại bị cáo đã sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 sim 0862555582 có phôi sim: 8984048000920063844, hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy phôi sim điện thoại trên.
[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh, hình phạt:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Ninh Đức H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt Ninh Đức H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 Ultra 5G màu đen, IMEI 1: 351065130194994/56, IMEI 2: 351607960194998/56;
Tịch thu tiêu hủy 01 sim có phôi sim: 8984048000920063844.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 10 tháng 10 năm 2024).
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoàng L số tiền là 18.300.000 (mười tám triệu ba trăm nghìn) đồng, bị hại Nguyễn Thị P số tiền là 6.924.000 (sáu triệu chín trăm hai mươi tư nghìn) đồng, bị hại Nguyễn Trần Ngọc T số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Ninh Đức H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 21, điểm c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo phải nộp 1.636.200 đồng (một triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại T5 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Cao Thị Hạ |
Nguyễn Thanh Hải |
Bùi Thị Thúy Hà |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
DANH SÁCH GỬI BƯU ĐIỆN
(Bản án HSST số 223/29.10.2024 - H4)
- Tòa án nhân dân tối cao - Địa chỉ : D L, H, Hà Nội. Mã vận đơn: RC 18 759374 4 VN
- VKSND Cấp cao tại Hà Nội; Trụ sở: Tầng 15,16 Số I phố P - Cầu G - Hà Nội. Mã vận đơn: RC 18 759375 8 VN
- TAND Cấp cao tại Hà Nội; Ngõ A P. P, Y, Cầu G, Hà Nội. Mã vận đơn: RC 18 759376 1 VN
- Công an thành phố H; Địa chỉ: Số B P. L, M, Hồ N, Hải Phòng; Mã vận đơn: RC 18 759378 9 VN
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 2004, nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; SĐT: 0853.349.xxx Mã vận đơn: RC 18 759377 5 VN
- Chị Nguyễn Hoàng L, sinh năm 2004, nơi cư trú: Tổ A phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; SĐT: 0349.518.xxx Mã vận đơn: RC 18 759379 2 VN
- Chị Nguyễn Trần Ngọc T, sinh năm 2003, nơi cư trú: Số C H, phường C, H, tỉnh Quảng Nam; SĐT: 0877.924.xxx Mã vận đơn: RC 18 759380 1 VN
- Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1977, nơi cư trú: Park 6-27/12 P, phường M, quận H, Hà Nội; SĐT: 0965.891.xxx Mã vận đơn: RC 18 759373 5 VN
Người gửi/Xác nhận của bưu điện
Trần Thị Thu Huệ
Bản án số 223/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 223/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ninh Đức Hoàng phạm tội Cướp tài sản
