Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2024/DS- PT

Ngày: 12/11/2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang và bà Phạm Thị Chuyền.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 12/11/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2024/DS-PT ngày 28/8/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 15/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 209/2024/QĐ-PT ngày 09/9/2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định tạm ngừng phiên tòa giữa:

* Nguyên đơn: Ông Lương Sáng T, sinh năm 1955 (có mặt).

Nơi cư trú: Thôn T, T, huyện L, Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lương Sáng T: Ông Trần Đăng M – Luật sư thuộc Công ty L2 – Đoàn luật sư T8

Địa chỉ: số A, ngõ A, đường N, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Bị đơn:

  1. Ông Diệp Văn C, sinh năm 1977 (có mặt).
    Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Diệp Văn C: Bà Hoàng Thị L – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
  2. Bà Lương Thị K, sinh năm 1979 (có mặt).
    Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Lương Thị K: Bà Võ Thị An B – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1958 (vắng mặt).
  2. Chị Lương Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  3. Anh Lương Khải T1, sinh năm 1982 (có mặt).
  4. Anh Lương Toàn T2, sinh năm 1984 (vắng mặt).
  5. Chị Dũng Thanh T3, sinh năm 1985 (vắng mặt).
  6. Chị Lương Thị L1, sinh năm 1988 (vắng mặt).
  7. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1991 (vắng mặt).
    Đều cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị X, chị Lương Thị H, anh Lương Khải T1, anh Lương Toàn T2, chị Dũng Thanh T3, chị Lương Thị L1, chị Nguyễn Thị T4: Ông Lương Sáng T, sinh năm 1955 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, T, huyện L, Bắc Giang.

  1. Anh Diệp Văn B1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
  2. Anh Diệp Văn D, sinh năm 2001 (vắng mặt).
  3. Ông Diệp Văn P, sinh năm 1972 (vắng mặt).
  4. Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
    Đều cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  5. Ông Nguyễn Mạnh V, sinh năm 1974 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  6. Ủy ban nhân dân tỉnh B.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ánh D1 – Chủ tịch UBND tỉnh B.
    Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh B: Ông Nguyễn Đức T5 - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L (theo Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 06/3/2024 của Chủ tịch UBND tỉnh B) (vắng mặt).
  7. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông La Văn N – Chủ tịch UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang: Bà Phạm Thị H2 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L (theo Quyết định số 342/QĐ-UBND ngày 05/02/2024 của Chủ tịch UBND huyện L) (vắng mặt).
  8. Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Văn C1 – Chủ tịch UBND xã T.
    Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND xã T: Ông Leo Văn P1 - Phó Chủ tịch UBND xã T (theo Giấy ủy quyền số 01/GUQ ngày 27/02/2024 của Chủ tịch UBND xã T) (vắng mặt).
  9. Hạt kiểm lâm L3.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn C2 – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm L3.
    Người đại diện theo ủy quyền của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm L3: Ông Nguyễn Văn T6 – Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm địa bàn xã T (theo Văn bản số 04/CV-HKL ngày 18/01/2024) (vắng mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn ông Diệp Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lương Sáng T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị X, chị Lương Thị H, anh Lương Khải T1, anh Lương Toàn T2, chị Dũng Thanh T3, chị Lương Thị L1, chị Nguyễn Thị T4 trình bày:

Gia đình ông và gia đình ông Diệp Văn C có quan hệ hàng xóm, ông xác định gia đình ông có 01 diện tích đất lâm nghiệp = 12,18ha, được Hạt kiểm lâm L3 giao, được cấp sổ bìa xanh từ năm 1996, lô c5, khoảnh 24, sau khi giao đất giao rừng xong gia đình ông trồng sắn, sau đó trồng keo. Đến năm 2001, Nhà nước có chương trình đổi từ sổ bìa xanh sang sổ bìa đỏ, đã thu hồi sổ bìa xanh và cấp sổ bìa đỏ có số và sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01031/QSDĐ/159/QĐ-UB cấp ngày 08/5/2001, diện tích 121.800m² địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đến năm 2017 gia đình có nhu cầu chuyển nhượng cho ông V nên đo đạc lại và được cấp sổ mới có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m² địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Gia đình ông C cũng được giao đất giáp nhà ông, khi khai thác sử dụng thì vợ chồng ông C, bà K đã sử dụng sang đất nhà ông khoảng trên 3,0ha, ông đã đến yêu cầu nhiều lần nhưng vợ chồng ông C trả được khoảng 02 sào, khất hết lần này đên lần khác không trả. Năm 2017 gia đình ông chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh V một phần diện tích diện tích lâm nghiệp = 80.133m², việc chuyển nhượng đã xong, có ranh giới rõ ràng, ông V làm xong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích còn lại khoảng 3,0ha của gia đình ông cầu thì vợ chồng ông C, bà K không trả tiếp tục trồng vải, bạch đàn, bưởi. Gia đình ông đã gửi đơn nên UBND xã T giải quyết nhưng không có kết quả.

Ban đầu ông khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông C phải trả gia đình ông tổng diện tích đất lấn chiếm khoảng 3,0ha theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m², địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi thẩm định đo đạc thì diện tích tranh chấp = 49.527m². Tuy nhiên theo ranh giới Hạt kiểm lâm L3 xác định chỉ có = 41.380m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Do vậy ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Diệp Văn C phải trả lại ông diện tích đất 41.380m² vì diện tích đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông.

Đối với những cây bạch đàn, bưởi, vải hộ gia đình ông C trồng trên diện tích đất 41.380m² ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông C di dời, khai thác để để trả lại đất cho gia đình ông canh tác, sử dụng, nếu không trả đất và di dời cây cối gia đình ông đề nghị gia đình ông C trả bằng tiền tương đương với giá trị đất = 200.000.000 đồng/01 ha.

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K đều trình bày:

Gia đình ông, bà được được Hạt kiểm lâm L3 giao rừng từ năm 1996, diện tích trên 12,01ha, thuộc lô có, khoảnh 24, được cấp sổ bìa xanh, sau khi giao đất giao rừng xong gia đình ông, bà trồng sắn, lúa nương, đến năm 2001, Nhà nước có chương trình chuyển đổi từ sổ bìa xanh sang sổ bìa đỏ thì toàn bộ diện tích đất này được chuyển sang sổ bìa đỏ, trong diện tích đất vợ chồng ông, bà được giao từ năm 1996. Vợ chồng ông, bà đã chuyển nhượng cho anh trai con nhà bác là ông Diệp Văn P một phần diện tích, nhưng việc chuyển nhượng không làm thủ tục tại xã, phường mà chỉ chuyển nhượng bằng miệng nhưng ông Diệp Văn P đang sủ dụng ổn định phần đất này không có tranh chấp với ai, còn một phần đất hiện nay ông T khởi kiện thì gia đình ông, bà đang sử dụng trồng vải, bưởi và bạch đàn.

Nay ông T khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông, bà phải trả diện tích đất = 41.380m² địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì ông, bà không nhất trí. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết.

* Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X, chị Lương Thị H, anh Lương Khải T1, anh Lương Toàn T2, chị Dũng Thanh T3, chị Lương Thị L1, chị Nguyễn Thị T4 đều trình bày:

Bà X và các anh, chị đều xác định gia đình có 01 diện tích đất lâm nghiệp, được Hạt kiểm lâm L3 giao, được cấp sổ bìa xanh, sau khi giao đất giao rừng xong gia đình trồng sắn, đến năm 2001 chuyển sang sổ bìa đỏ, đến năm 2017 gia đình có nhu cầu chuyển nhượng cho anh V nên đo đạc lại và cấp sổ mới có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m². địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Gia đình ông C cũng được giao đất giáp nhà bà, anh chị và đã sử dụng sang đất nhà chị.

Nay ông Lương Sáng T khởi kiện đòi lại diện tích đất ông C lấn chiếm nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m². địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì bà và các anh, chị hoàn toàn nhất trí. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho gia đình. Do công việc bận, bà và các anh, chị ủy quyền cho ông Lương Sáng T tham gia giải quyết vụ án đến khi kết thúc vụ án.

* Tại bản tự khai,biên bản ghi lời khai, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Diệp Văn B1, anh Diệp Văn D đều trình bày:

Các anh là con đẻ ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K. Các anh đều xác định nguồn gốc diện tích đất ông T khởi kiện là của gia đình anh được Hạt kiểm lâm L3 giao từ năm 1996, diện tích trên 12ha, được cấp sổ bìa xanh, đến năm 2001 chuyển sang sổ bìa đỏ, sau khi giao đất giao rừng xong gia đình anh trồng sắn, lúa và để cho ông Diệp Văn P sử dụng một phần đất này, còn một phần thì gia đình anh đang sử dụng, trồng vải, bưởi và bạch đàn.

Ông T khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc gia đình anh phải trả diện tích đất mà gia đình đang sử dụng, các anh không nhất trí. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết.

* Tại bản tự khai,biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Diệp Văn P, bà Đặng Thị H1 đều trình bày:

Vợ chồng ông, bà có quan hệ họ hàng với ông C, bà K và hàng xóm với ông Lương Sáng T. Vợ chồng ông, bà xác định nguồn gốc đất rừng ông T khởi kiện là của gia đình ông C được Hạt kiểm lâm Lục Ngạn giao từ năm 1996, diện tích 12,01ha, được cấp sổ bìa xanh, sau đó Nhà nước có kế hoạch chuyển từ sổ bìa xanh sang sổ bìa đỏ thì toàn bộ diện tích đất gia đình C được giao chuyển sang sổ bìa đỏ. Vợ chồng ông đã mua của vợ chồng ông C, bà K một phần diện tích này, việc mua bán không làm thủ tục tại xã phường, ranh giới do các bên tự xác định, hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần còn lại thì vợ chồng ông C sử dụng, hiện nay trồng vải, bạch đàn, cam. Đối với phần đất của vợ chồng ông, bà mua của ông C không có tranh chấp với ai, ông, bà không có ý kiến hay yêu cầu gì. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Do công việc bận ông, bà xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử của Tòa án.

* Tại bản tự khai,biên bản ghi lời khai người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh V trình bày:

Ông xác định vào năm 2017, ông có nhận chuyển nhượng của gia đình ông Lương Sáng T diện tích 80.133m², việc chuyển nhượng làm thủ tục đầy đủ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay đang sử dụng ổn định, ranh giới rõ ràng, không tranh chấp liên quan đến ai. Việc tranh chấp đất giữa ông T và ông C không liên quan đến thửa đất của ông. Do vậy ông đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết và xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử của Tòa án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hạt kiểm lâm L3 do ông Nguyễn Văn T6 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Sau khi xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C, Hạt Kiểm lâm huyện L3 có ý kiến như sau:

Việc giao đất, giao rừng cho ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại nghị định số: 02/NĐ ngày 15/01/1994 và Luật Đất đai năm 1993. Khi giao đất có đầy đủ các ban, nành, địa phương. Việc giao đất được tiến hành trực tiếp ngoài thực địa, giữa bên giao đất và bên nhận đất.

Ông Lương Sáng T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 82, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996, diện tích: 12,18 ha = 120.180m². Thuộc lô: C5, khoảnh 24, nay thuộc thôn T, T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đến năm 2001 được chuyển sang sổ bìa đỏ, đến năm 2017 đo đạc lại thì tiếp tục được cấp đổi sang sổ bìa đỏ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m² (Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang).

Ông Diệp Văn C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 83, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996, diện tích: 12,01ha = 120.001m². Thuộc lô: C6, khoảnh 24, thuộc thôn T, T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến năm 2001 được chuyển sang sổ bìa đỏ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01353/QSDĐ/159/QĐ-UB ngày 08/5/2001, diện tích 12,01ha. (Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang).

Sau khi xem xét thẩm định đối chiếu với sơ đồ giao đất giao rừng thì thấy:

  • Theo số liệu của Cơ quan đo đất thì:
    • + Diện tích ông Lương Sáng T sử dụng thực tế đã chuyển nhượng cho ông Nguyện Mạnh V1 = 80.133m², diện tích ông đang sử dụng thực tế: 1.330 m². Thiếu 37.345 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp ông được cấp.
    • + Diện tích ông Diệp Văn C để ông Diệp Văn P sử dụng thực tế = 90.470m², tại lô C6, khoảnh 24. Thiếu 29.531 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp ông được cấp.
    • + Phần diện tích đất tranh chấp ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C là: 49.527m² (trong đó diện tích tranh chấp trồng cây bạch đàn là 36.851m² + 5.882m², diện tích tranh chấp trồng cây ăn quả là 4.529m² + 2.265m²).

Phần diện tích đất tranh chấp 49.527m². Trong đó có 36.851m² + 4.529m² = 41.380m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm số 82, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996 (Địa chỉ thửa đất: T, T, L, Bắc Giang mà ông Lương Sáng T được cấp.

Diện tích 2.265m² + 5.882m² = 8.147m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Diệp Văn C được cấp.

Hạt kiểm lâm L3 khẳng định không có việc giao chồng chéo giữa đất nhà ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C.

Việc sử dụng không đúng diện tích là do các gia đình tự ý sử dụng không đúng ranh giới, diện tích được giao.

Phần diện tích đất có tăng hay giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân là trước đây đo vẽ bằng phương pháp thủ công nay đo bằng máy móc hiện đại hơn nên độ chính xác cao hơn.

Do công việc bận ông xin được vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải và xét xử tại Toà án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện L do bà Phạm Thị H2 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Sau khi xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C. Ủy ban nhân dân huyện L có ý kiến như sau:

Ông Lương Sáng T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 82, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996, diện tích: 12,18 ha = 120.180m². Thuộc lô: C5, khoảnh 24, thuộc thôn T, T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đến năm 2017 Nhà nước có chương trình đổi từ sổ bìa xanh sang sổ bìa đỏ, gia đình ông C được chuyển sang sổ bìa đỏ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m². (Địa chỉ thửa đất: Tân Tiến, T, L, Bắc Giang).

Ông Diệp Văn C (Địa chỉ: Thôn T, T, huyện L, tỉnh Bắc Giang) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 83, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996, diện tích: 12,01ha = 120.001m². Thuộc lô: C6, khoảnh 24, thuộc thôn T, T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Đến năm 2001 được chuyển sang sổ bìa đỏ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01353/QSDĐ/159/QĐ-UB ngày 08/5/2001, diện tích 12,01ha. (Địa chỉ thửa đất: Tân Tiến, T, L, Bắc Giang).

Sau khi xem xét thẩm định đối chiếu với sơ đồ giao đất giao rừng thì thấy:

  • Theo số liệu của Cơ quan đo đất thì:
    • + Diện tích ông Lương Sáng T sử dụng thực tế đã chuyển nhượng cho ông Nguyện Mạnh V1 = 80.133m², diện tích ông đang sử dụng thực tế: 1.330m². Thiếu 37.345m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp ông được cấp.
    • + Diện tích ông Diệp Văn C sử dụng thực tế sau đó chuyển cho ông Diệp Văn P = 90.470m², tại lô C6, khoảnh 24. Thiếu 29.531m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp ông được cấp.

Phần diện tích đất tranh chấp ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C là: 49.527m² (Trong đó diện tích tranh chấp trồng cây bạch đàn là 36.851m² + 5.882m², diện tích tranh chấp trồng cây ăn quả là 4.529m² + 2.265m²).

Việc sử dụng không đúng diện tích là do các gia đình tự ý sử dụng không đúng ranh giới, diện tích được giao. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

Do công việc bận nên bà xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử tại Toà án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã T do ông Leo Văn P1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Sau khi xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C và các tài liệu liên quan khác. UBND xã T có ý kiến như sau:

Ông Lương Sáng T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 82, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996, diện tích: 12,18 ha = 120.180m². Thuộc lô: C5, khoảnh 24, thuộc thôn T, T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đến năm 2017 cấp đổi sang số sổ bìa đỏ, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m² (Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang).

Ông Diệp Văn C (Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 83, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996, diện tích: 12,01ha = 120.001m². Thuộc lô: C6, khoảnh 24, thuộc thôn T, T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đến năm 2001 được chuyển sang sổ bìa đỏ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01353/QSDĐ/159/QĐ-UB ngày 08/5/2001, diện tích 12,01ha. (Địa chỉ thửa đất: Tân Tiến, T, L, Bắc Giang).

Việc giao đất, giao rừng cho ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền tại thời điểm giao đất, không có việc giao chồng chéo giữa đất nhà ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C.

Sau khi xem xét thẩm định đối chiếu với sơ đồ giao đất giao rừng thì thấy:

  • Theo số liệu của Cơ quan đo đất thì:
    • + Diện tích ông Lương Sáng T sử dụng thực tế đã chuyển nhượng cho ông Nguyện Mạnh V1 = 80.133m², diện tích ông đang sử dụng thực tế: 1.330m². Thiếu 37.345m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp ông được cấp.
    • + Diện tích ông Diệp Văn C sử dụng thực tế sau đó chuyển cho ông Diệp Văn P = 90.470m², tại lô C6, khoảnh 24. Thiếu 29.531m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp ông được cấp.

Phần diện tích đất tranh chấp ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C là: 49.527 m2.(Trong đó diện tích tranh chấp trồng cây bạch đàn là 36.851m² + 5.882m², diện tích tranh chấp trồng cây ăn quả là 4.529m² + 2.265m²).

Phần diện tích đất tranh chấp 49.527m². Trong đó có 36.851m² + 4.529m² = 41.380m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm số 82, tại Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp số: 492/GĐGR ngày 15/12/1996 (Địa chỉ thửa đất: T, T, L, Bắc Giang mà ông Lương Sáng T được cấp. Diện tích 2.265m² + 5.882m² = 8.147m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Diệp Văn C được cấp.

Việc sử dụng không đúng diện tích là do các gia đình tự ý sử dụng không đúng ranh giới, diện tích được giao.

Phần diện tích đất có tăng hay giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân là trước đây đo vẽ bằng phương pháp thủ công nay đo bằng máy móc hiện đại hơn nên độ chính xác cao hơn. Do công việc bận ông xin được vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải và xét xử của Toà án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND tỉnh B do ông Nguyễn Đức T5 - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký văn phòng đất đai huyện L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Hộ ông Lương Sáng T được Sở tài nguyên môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, diện tích 118.808m². địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang được đổi từ thửa đất số: 05, khoảnh 24 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 01031, số sê ri W 061079 do UBND huyện L cấp ngày 08/5/2001 sau đó ông Lương Sáng T đã thực hiện đăng ký biến động chuyển nhượng một phần diện tích thửa đất 80.133m² cho ông Nguyễn Mạnh V. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Sáng T đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củap bị đơn ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K là bà Hoàng Thị L và bà Võ Thị An B đều trình bày:

Do diện tích đất ông C, bà K đã sử dụng ổn định từ năm 1996 (gần 30 năm) không tranh chấp với ai, hiện nay ông, bà đều trồng cây cối ổn định trên đất do vậy đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C đòi diện tích 41.380m².

* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/01/2024 xác định tài sản tranh chấp như sau:

Xác định diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số W 06164, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01353/QSDĐ/159/QĐ-UB(H) cấp ngày 08/5/2001 cho hộ ông Diệp Văn C, diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là =120.100m². Diện tích ông Diệp Văn C sử dụng thực tế sau đó chuyển cho ông Diệp Văn P = 90.470m².

Xác định diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số CK151754, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS00609; Thuộc thửa đất số 01, tờ bản đồ trích đo địa chính số: 42/2017, thuộc thôn T, T, huyện L. Diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là: 118.808m². Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế gồm phần chuyển nhượng cho ông Nguyễn Mạnh V = 80.133m², diện tích ông đang sử dụng: 1.330m².

Xác định diện tích đất tranh chấp giữa ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C = 49.527m².

Xác định trên phần đất tranh chấp 49.527m² có: 180 (một trăm tám mươi) cây bưởi có đường kính gốc từ 2 -5cm; 05 cây vải đường kính tán từ 0,5 – 1 m; 131 cây vải có đường kính tán từ 1,5 – 2 m; 98 cây vải có đường kính tác 2,5 - 3m; Bạch đàn mật độ 1.700 cây/1ha, đường kính gốc 10 – 13 cm (Bạch đàn chưa đến thời kỳ thu hoạch).

* Tại biên bản định giá tài sản lập ngày 09/01/2024, Hội đồng định giá xác định giá trị tài sản như sau:

- Diện tích đất tranh chấp 49.527 m² x 20.000 đồng/1,0m² = 990.540.000 đồng (theo giá giao dịch tại địa phương).

- Xác định tài sản trên diện tích đất tranh chấp 49.527m² gồm:

  • + 180 (một trăm tám mươi) cây bưởi có đường kính gốc từ 2cm ≤ d ≤ 5cm, có giá trị 695.000 đồng/01 cây = 125.100.000 đồng.
  • + 05 (năm) cây vải đường kính tán từ 0,5m ≤ F ≤ 1,0 m có giá trị 65.000 đồng/01 cây = 325.000 đồng.
  • + 131 (một trăm ba mươi mốt) cây vải có đường kính tán từ 1,5m ≤ F < 2,0m có giá trị 830.000 đồng/01 cây = 108.730.000 đồng.
  • + 98 (chín mươi tám) cây vải có đường kính tán 2,5m ≤ F ≤ 3,0m có giá trị 2.450.000 đồng/01 cây = 240.100.000 đồng.
  • + Bạch đàn có mật độ 1.700 cây/1,0 ha, đường kính gốc 10cm ≤ 4 ≤ 13 cm (Bạch đàn chưa đến thời kỳ thu hoạch) có 36.851 m² đất tranh chấp trồng cây bạch đàn = 6.264,61 cây x 118.000 đồng/01 cây = 857.223.980 đồng.

Tổng cộng giá trị tài tài sản trên đất tranh chấp là: 1.331.478.980 đồng.

* Tại biên bản làm việc ngày 01/7/2024 về việc áp bản đồ lô C5 - C6, Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ xác định:

Sau khi áp bản đồ Hạt kiểm lâm Lục Ngạn tại lô C5, C6 của hộ ông Lương Sáng T và ông Diệp Văn C theo ranh giới Hạt kiểm lâm xác định được kết quả thực tế như sau:

Đối với ông Lương Sáng T:

Diện tích ông Lương Sáng T trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp năm 1996 = 12,18 ha. Sau khi áp bản đồ theo ranh giới Hạt kiểm lâm xác định thì được kết quả diện tích thực tế như sau: 121.513m² (Gồm những phần 80.133m² + 36.851m² + 4.529m²).

Đối với ông Diệp Văn C:

Diện tích ông Diệp Văn C trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp năm 1996 = 12,01ha. Sau khi áp bản đồ theo ranh giới Hạt kiểm lâm xác định thì được kết quả như sau: 125.724m² (Gồm những phần 90.470m² + 5.882m² + 2.265m² + 27.107m²)

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 15/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn đã quyết định:

Áp dụng các Điều 24, Điều 36, Điều 38, Điều 43, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; các Điều 4, Điều 5, Điều 100, Điều 135; Điều 166; Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 138; Điều 166; Điều 175, Điều 176, Điều 257, Điều 579 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91; Điều 93; Điều 147, Điều 156, Điều 157; Điều 164; Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Sáng T:

Buộc hộ ông Diệp Văn C phải trả cho hộ ông Lương Sáng T trị giá 41.380m² đất (Trong đó có: 36.851m² trồng cây bạch đàn và 4.529m² trồng cây ăn quả) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang = 827.600.000 đồng (T7 trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Hộ ông Diệp Văn C được quyền sử dụng 41.380m² (Trong đó có: 36.851m² trồng cây bạch đàn và 4.529m² trồng cây ăn quả) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang cấp cho hộ ông Lương Sáng T và toàn bộ cây cối, tài sản trên diện tích đất 41.380m².

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào Bản án của Tòa án và các Quyết định liên quan để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho hộ ông Diệp Văn C và hộ ông Lương Sáng T

(Có sơ đồ thửa đất kèm theo).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 22/7/2024, bị đơn ông Diệp Văn C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 23/2024/DSST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:

  • - Bị đơn ông Diệp Văn C trình bày:
    Ông đồng ý trả lại cho Lương Sáng T, bà Nguyễn Thị X toàn bộ diện tích 41.380m² đất (Trong đó có: 36.851m² trồng cây bạch đàn và 4.529m² trồng cây ăn quả) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nhưng ông đề nghị ông T, bà X cho vợ chồng ông được quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất nêu trên và diện tích 1.330m² hiện ông T, bà X vẫn đang quản lý, sử dụng. Vợ chồng ông sẽ có trách nhiệm thanh toán giá trị toàn bộ diện tích đất cho vợ chồng ông T là 550.000.000 đồng. Thời hạn thanh toán chia làm hai lần:
    • - Lần 1 ngày 12/12/2024(Dương lịch) thanh toán 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn).
    • - Lần 2 ngày 30/3/2025(Dương lịch) thanh toán 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng chẵn).
    Vợ chồng ông T phải khai thác toàn bộ số cây trồng trên diện tích 1330m² để trả lại đất cho vợ chồng ông và phải giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông khi ông thanh toán xong số tiền 550.000.000 đồng.
  • - Nguyên đơn ông Lương Sáng T trình bày: Ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu của ông Diệp Văn C.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lương Sáng T và người bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K trình bày: Nhất trí với ý kiến thỏa thuận của ông T và ông C. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  • - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
    • - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
    • - Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 15/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Diệp Văn C, công nhận sự thoả thuận của các bên đương sự, giao cho ông C, bà K được quyền quản lý, sử dụng 42.710m² đất lâm nghiệp; ông C, bà K có trách nhiệm thanh toán cho ông T, bà X 550.000.000 đồng.
    • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông C được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Diệp Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm giữa nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thống nhất, thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể:

Ông Lương Sáng T đồng ý cho vợ chồng ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K được quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp là 42.710 m²( Trong đó có: 36.851m² trồng cây bạch đàn và 4.529m² trồng cây ăn quả hiện do gia đình ông C đang quản lý sử dụng và 1330 m² đất lâm nghiệp hiện do gia đình ông T đang quản lý sử dụng) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K phải thanh toán giá trị toàn bộ diện tích đất trên cho ông Lương Sáng T, bà Nguyễn Thị X là 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn thanh toán chia làm hai lần:

  • - Lần 1 ngày 12/12/2024(Dương lịch) thanh toán 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn).
  • - Lần 2 ngày 30/3/2025(Dương lịch) thanh toán 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng chẵn).

Ông Lương Sáng T, bà Nguyễn Thị X phải khai thác toàn bộ số cây trồng trên diện tích 1330m² để trả lại đất cho vợ chồng ông C và phải giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS00609 ngày 21/8/2017, địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang sau khi ông C, bà K thanh toán đầy đủ cho ông T, bà X số tiền 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).

Xét nội dung thỏa thuận trên giữa nguyên đơn ông Lương Sáng T và bị đơn ông Diệp Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ vào điều 300 BLTTDS, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[3] Về án phí:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên ông C là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Diệp Văn C

[4] Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất thỏa thuận giữ nguyên chi phí tố tụng như quyết định tại Tòa án cấp sơ thẩm. Buộc ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K phải trả cho ông Lương Sáng T số tiền chi phí thẩm định, định giá và trích đo = 8.750.000 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Ông Lương Sáng T phải chịu 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định, định giá. Xác nhận ông T đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Diệp Văn C, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 15/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Áp dụng các Điều 24, Điều 36, Điều 38, Điều 43, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; các Điều 4, Điều 5, Điều 100, Điều 135; Điều 166; Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 138; Điều 166; Điều 175, Điều 176, Điều 257, Điều 579 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91; Điều 92; Điều 93; Điều 147, Điều 156, Điều 157; Điều 164; Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Sáng T, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
    1. Giao cho vợ chồng ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K được quyền quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp là 42.710 m² (Trong đó có: 36.851m² trồng cây bạch đàn và 4.529m² trồng cây ăn quả hiện do gia đình ông C đang quản lý sử dụng và 1.330 m² đất lâm nghiệp hiện do gia đình ông T đang quản lý sử dụng) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS00609 ngày 21/8/2017, địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    2. Ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị toàn bộ diện tích đất trên cho vợ chồng ông Lương Sáng T, bà Nguyễn Thị X là 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn thanh toán chia làm hai lần:
      • - Lần 1 ngày 12/12/2024 (Dương lịch) thanh toán 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn).
      • - Lần 2 ngày 30/3/2025(Dương lịch) thanh toán 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng chẵn).
    3. Ông Lương Sáng T, bà Nguyễn Thị X phải khai thác toàn bộ số cây trồng trên diện tích 1.330m² để trả lại đất cho vợ chồng ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K và phải giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS00609 ngày 21/8/2017, địa chỉ thửa đất: Khuôn Vố (nay là thôn T), xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho ông C, bà K sau khi ông C, bà K thanh toán đầy đủ cho ông T, bà X số tiền 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào Bản án của Tòa án và các Quyết định liên quan để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho vợ chồng ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K.

(Có sơ đồ thửa đất kèm theo).

  1. Về chi phí tố tụng:
    • Buộc ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K phải trả cho ông Lương Sáng T số tiền 8.750.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.
    • Buộc ông Lương Sáng T phải chịu 1.750.000 đồng (Một triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản. Xác nhận ông Lương Sáng T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
  2. Về án phí:
    • Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K.
    • Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Diệp Văn C, bà Lương Thị K.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Lục Ngạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/DS- PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 223/2024/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger