TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 223/2024/HSST Ngày: 14 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đặng Tấn Đức;
- Bà Lê Thị Sao.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Trần Hà Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 233/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Viết T; sinh năm 1994, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 141/16 đường số A, phường B, quận B, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh M, sinh năm 1976 và bà: Giã Thị Hồng H, sinh năm 1975; vợ: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1995, con: có 01 người con sinh năm 2018;
- Hoàng Vũ Thanh A; sinh năm 1995, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 93 B1, tổ A, khu phố A, phường T, quận A, TP .; chổ ở hiện nay: như trên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Quốc N, sinh năm 1954 và bà: Vũ Thị H1, sinh năm 1960; chồng, con: chưa có.
Nhân thân: ngày 09/6/2010 bị Ủy ban nhân dân quận B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại Trường G, chấp hành xong ngày 30/3/2012; ngày 05/02/2021 bị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.650.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.
Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giữ ngày 10/03/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T1) Công an T2 và có mặt tại phiên tòa.
Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giữ ngày 10/03/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T1) Công an T2 và có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại.
- Anh Võ Hoàng P, sinh năm: 1999; trú tại: 5 đường M, phường A, quận H, TP . (Vắng mặt).
- Chị Hồ Thị Mộng Q, sinh năm: 2005; trú tại: F Tỉnh Lộ 10, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Minh C1, sinh năm 1957; trú tại: C, tổ A, khu phố C, phường L, TP ., TP . (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị X, sinh năm 1969; trú tại: thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp, nghiện ma túy nên Nguyễn Viết T và bạn gái là Hoàng Vũ Thanh A rủ nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, các lần cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 16 giờ ngày 23/02/2024, T điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 53X5-9297 chở A ngồi sau đi lòng vòng qua nhiều tuyến đường tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đến trước cửa hàng C2, địa chỉ số B Đ, phường T, quận T thì T và A phát hiện có nhiều xe máy dựng trước cửa hàng, không có người trông coi nên cả hai nảy sinh ý định trộm cắp xe máy. T dừng xe cách cửa hàng khoảng 3m để A giữ xe và cảnh giới. T đi bộ đến tiếp cận xe máy hiệu Honda Wave RSX biển số 60H1-506.99 của anh Võ Hoàng P thì thấy xe có khóa cổ. T dùng hai tay nắm tay lái xe để bẻ khóa nhưng không được nên T sử dụng chân phải đạp mạnh vào tay lái thì phá được khóa. Sau đó T dắt lùi xe trên ra ngoài đường rồi ngồi lên xe và dùng hai chân đẩy xe tẩu thoát đến ngã ba đường Đ và đường T. Lúc này, T giao xe máy biển số 60H1-506.99 cho A điều khiển, còn T điều khiển xe máy biển số 53X5-9297 và dùng chân trái đẩy xe của A đến bãi đất trống trên đường số A, tổ H, khu phố E, phường B, quận B. Tại đây, T và A bán xe trộm cắp được cho người đàn ông tên S (không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng và mua của S 08 tép ma túy (heroin) với giá 800.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng thì T và A đã tiêu xài cá nhân hết. Số ma túy trên T và A đã sử dụng hết.
Vụ thứ hai:
Vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 02/3/2024, T điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 53X5-9297 chở A ngồi sau đi lòng vòng tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước cửa hàng F, địa chỉ số A P, Phường A, quận G, T và A phát hiện xe máy hiệu Honda Blade biển số 64F1-267.02 của chị Hồ Thị Mộng Q có cắm sẵn chìa khóa nên cả hai nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T dừng xe bên kia đường đối diện cửa hàng F để A đứng giữ xe và cảnh giới. T đi bộ tiếp cận xe máy biển số 64F1-267.02 rồi ngồi lên xe và nổ máy tẩu thoát. Sau đó, T điều khiển chiếc xe trộm cắp được đến bãi đất trống tại khu vực nghĩa trang B2, quận B để bán xe, còn A điều khiển xe của T đi theo sau. Khi đến nơi, T đã bán xe vừa trộm cắp được cho S với giá 1.800.000 đồng và mua ma túy từ S hết 800.000 đồng. Số ma túy trên T và A đã sử dụng hết. Số tiền bán xe còn lại cả hai tiêu xài hết 200.000 đồng và giữ lại 800.000 đồng để tiếp tục mua ma túy.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, T điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 53X5-9297 chở A đến bãi đất trống trên đường số A, tổ H, khu phố E, phường B, quận B gặp S mua 08 tép ma túy với giá 800.000 đồng để T và A về sử dụng chung (đây là tiền bán xe máy biển số 64F1-267.02). Khi cả hai vừa mua ma túy xong thì bị Công an phường B, quận B kết hợp Đội Cảnh sát hình sự Công an quận T kiểm tra, thu giữ trong túi áo khoác của A có 08 đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy nên Tổ công tác đưa T và A về trụ sở làm việc, riêng S bỏ chạy thoát.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Viết T và Hoàng Vũ Thanh A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập.
Kết luận định giá tài sản số 638/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận T, thời điểm định giá ngày 23/02/2024, kết luận: "01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn xanh đen, biển số 60H1-506.99, số khung: RLHJA3859NY114204, số máy: JA52E0384277, trị giá 19.000.000 đồng. "(BL 155)
Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp quận thuộc Ủy ban nhân dân quận G, thời điểm định giá ngày 02/3/2024, kết luận: "01 xe mô tô hai bánh hiệu Honda Blade, biển số 64F1-267.02, số máy: JA36E0303268, số khung: RLKJA3622EY160899, đã qua sử dụng, trị giá 8.466.667 đồng. (BL 408)
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 27.466.667 đồng.
Kết luận giám định số 3357/KL-KTHS ngày 16/3/2024 của Phòng K - Công an Thành phố T2, kết luận: "Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,7104g, loại Heroine (H) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (BL 154)
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe máy kiểu Sirius, biển số 53X5-9297, số máy: 5C63080967, số khung: RLCS5C6308Y080367, xe cũ đã qua sử dụng, là phương tiện T và A sử dụng khi đi trộm cắp tài sản. Qua làm việc, T khai nhận mua xe trên của một người phụ nữ tên H2 (không rõ lai lịch) vào năm 2023 với giá 4.500.000 đồng, xe không có giấy tờ (BL 190).
- Xác minh biển số 53X5-9297 thuộc về xe máy hiệu Dona, số khung: LWGXCHL02Y1001611, số máy: HD1P53FMHY0022074, do ông Võ Minh C1 (địa chỉ: C, Tổ A, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên sở hữu (BL 161). Qua làm việc, ông C1 trình bày hiện ông là người trực tiếp quản lý và sử dụng xe trên, không cho ai mượn hoặc bị mất (BL 209).
- Xác minh số khung: RLCS5C630-8Y080367, số máy: 5C63-080967 thuộc về xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 86Z1-3611, do ông Võ B (địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) đứng tên sở hữu (BL 162). Qua làm việc, bà Trần Thị X là vợ của ông Võ B trình bày chiếc xe trên do ông Võ B mua vào năm 2007 với giá 16.000.000 đồng. Ông B đã chết vào năm 2018 do bệnh nặng. Chiếc xe trên bị mất vào ngày 23/10/2023 tại trường tiểu học K1, phường B, quận B. Do xe có giá trị thấp nên bà X không trình báo cơ quan Công an. Bà X đề nghị được nhận lại xe trên (BL 212). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã có thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B để phối hợp điều tra và tiếp nhận vật chứng (BL 117).
- - 01 điện thoại hiệu HTC đã qua sử dụng, số Imel 352636073591120; 01 điện thoại hiệu Oppo đã qua sử dụng, số Imel 869125026231816; 01 điện thoại hiệu Nokia màu hồng đã qua sử dụng, số Imel 357723100191150, sim số: 0936818945, là điện thoại của T sử dụng để liên lạc cá nhân (BL 190).
- - 01 điện thoại hiệu Vivo màu vàng đã qua sử dụng, số Imel 865717064273280; 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, số Imel 353147113014353, là điện thoại của A sử dụng để liên lạc cá nhân (BL 193).
- - 01 nón bảo hiểm đã qua sử dụng màu xám; 01 áo thun dài tay màu trắng đen; 01 quần Jean dài màu xám, là trang phục T sử dụng khi đi trộm cắp tài sản.
- - 01 áo khoác kẻ sọc caro màu đỏ; 01 đôi dép màu đen; 01 nón bảo hiểm lưỡi trai màu trắng; 01 áo thun màu hồng; 01 quần thun lửng màu hồng, là trang phục A mặc khi đi trộm cắp tài sản.
- - 01 gói niêm phong số 1008/24 bên ngoài có chữ ký ghi tên Thượng úy Nguyễn Văn Út L (Giám định viên) và cán bộ điều tra Bùi Ngọc Quang V.
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 156/PNK ngày 01/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. (BL 235)
Về phần dân sự:
Anh Võ Hoàng P yêu cầu các bị can bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.
Chị Hồ Thị Mộng Q yêu cầu các bị can bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 253/CT-VKSQ.TP ngày 17 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Hoàng Vũ Thanh A từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Hoàng Vũ Thanh A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập giải quyết dân sự và xử lý vật chứng.
- - Các bị cáo Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 19 giờ ngày 23/02/2024, Nguyễn Viết T và Hoàng Vũ Thanh A có hành vi trộm cắp xe máy hiệu Honda Wave RSX biển số 60H1-506.99 trị giá 19.000.000 đồng của anh Võ Hoàng P tại trước số B Đ, phường T, quận T. Đến khoảng 17 giờ 40 phút ngày 02/3/2024, T và A tiếp tục trộm cắp xe máy hiệu Honda Blade biển số 64F1-267.02 trị giá 8.466.667 đồng của chị Hồ Thị Mộng Q tại trước số A P, Phường A, quận G.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy; xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- - Đối với bị cáo Nguyễn Viết T: là người có nhân thân xấu, bị cáo là người thực hành trong vụ án và trực tiếp chiếm đoạt 02 xe mô tô của anh Võ Hoàng P và chị Hồ Thị Mộng Q. Sau khi bán xe, bị cáo dùng tiền mua ma túy cùng A sử dụng.
- - Đối với bị cáo Hoàng Vũ Thanh A: là người cảnh giới để bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội. Vai trò tham gia của bị cáo trong vụ án cũng rất tích cực. Sau khi bị cáo T chiếm đoạt được xe thì bị cáo cùng với T tìm nơi tiêu thụ và bán lấy tiền cùng nhau mua ma túy sử dụng chung.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là phù hợp.
- Đối với người thanh niên tên S mua xe trộm cắp được và bán ma túy cho Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A tại bãi đất trống trên đường số A, tổ H, khu phố E, phường B, quận B, do không rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, người bị hại anh Võ Hoàng P yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền: 12.000.000 đồng. Chị Hồ Thị Mộng Q yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền: 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của những người bị hại. Cụ thể, chia phần:
- - Buộc bị cáo Nguyễn Viết T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Võ Hoàng P số tiền: 6.000.000 đồng và bồi thường cho chị Hồ Thị Mộng Q số tiền: 5.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Hoàng Vũ Thanh A phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Võ Hoàng P số tiền: 6.000.000 đồng và bồi thường cho chị Hồ Thị Mộng Q số tiền: 5.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe máy kiểu Sirius, biển số 53X5-9297, số máy: 5C63080967, số khung: RLCS5C6308Y080367, xe cũ đã qua sử dụng, là phương tiện T và A sử dụng khi đi trộm cắp tài sản. Qua làm việc, T khai nhận mua xe trên của một người phụ nữ tên H2 (không rõ lai lịch) vào năm 2023 với giá 4.500.000 đồng, xe không có giấy tờ (BL 190).
- Xác minh biển số 53X5-9297 thuộc về xe máy hiệu Dona, số khung: LWGXCHL02Y1001611, số máy: HD1P53FMHY0022074, do ông Võ Minh C1 (địa chỉ: C, Tổ A, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên sở hữu (BL 161). Qua làm việc, ông C1 trình bày hiện ông là người trực tiếp quản lý và sử dụng xe trên, không cho ai mượn hoặc bị mất (BL 209) cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Xác minh số khung: RLCS5C630-8Y080367, số máy: 5C63-080967 thuộc về xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 86Z1-3611, do ông Võ B (địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) đứng tên sở hữu (BL 162). Qua làm việc, bà Trần Thị X là vợ của ông Võ B trình bày chiếc xe trên do ông Võ B mua vào năm 2007 với giá 16.000.000 đồng. Ông B đã chết vào năm 2018 do bệnh nặng. Chiếc xe trên bị mất vào ngày 23/10/2023 tại trường tiểu học K1, phường B, quận B. Do xe có giá trị thấp nên bà X không trình báo cơ quan Công an. Bà X đề nghị được nhận lại xe trên (BL 212). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã có thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B để phối hợp điều tra và tiếp nhận vật chứng (BL 117) là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại hiệu HTC đã qua sử dụng, số Imel 352636073591120; 01 điện thoại hiệu Oppo đã qua sử dụng, số Imel 869125026231816; 01 điện thoại hiệu Nokia màu hồng đã qua sử dụng, số Imel 357723100191150, sim số: 0936818945, là điện thoại của T sử dụng để liên lạc cá nhân (BL 190). Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T.
- - Đối với 01 điện thoại hiệu Vivo màu vàng đã qua sử dụng, số Imel 865717064273280; 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, số Imel 353147113014353, là điện thoại của A sử dụng để liên lạc cá nhân (BL 193). Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo A.
- - Đối với 01 nón bảo hiểm đã qua sử dụng màu xám; 01 áo thun dài tay màu trắng đen; 01 quần Jean dài màu xám, là trang phục T sử dụng khi đi trộm cắp tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 áo khoác kẻ sọc caro màu đỏ; 01 đôi dép màu đen; 01 nón bảo hiểm lưỡi trai màu trắng; 01 áo thun màu hồng; 01 quần thun lửng màu hồng, là trang phục A mặc khi đi trộm cắp tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 gói niêm phong số 1008/24 bên ngoài có chữ ký ghi tên Thượng úy Nguyễn Văn Út L (Giám định viên) và cán bộ điều tra Bùi Ngọc Quang V. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/03/2024, Nguyễn Viết T và Hoàng Vũ Thanh A có hành vi tàng trữ 0,7104g ma túy ở thể rắn, loại Heroine tại bãi đất trống trên đường số A, tổ H, khu phố E, phường B, quận B thì bị bắt giữ.
Vì vậy, Cáo trạng số 253/CT-VKSQ.TP ngày 17 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Vụ án có nhiều bị cáo tham gia. Tuy nhiên, chỉ là đồng phạm giản đơn, vì khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc và câu kết chặt chẻ. Để có cơ sở lượng hình, Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của các bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 156/PNK ngày 01/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. (BL 235)
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A đều phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Viết T 02 (Hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Viết T 02 (Hai) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: bị cáo Hoàng Vũ Thanh A 02 (Hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: bị cáo Hoàng Vũ Thanh A 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Viết T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Võ Hoàng P số tiền: 6.000.000 đồng và bồi thường cho chị Hồ Thị Mộng Q số tiền: 5.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Hoàng Vũ Thanh A phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Võ Hoàng P số tiền: 6.000.000 đồng và bồi thường cho chị Hồ Thị Mộng Q số tiền: 5.000.000 đồng.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm đã qua sử dụng màu xám; 01 áo thun dài tay màu trắng đen; 01 quần Jean dài màu xám, là trang phục T sử dụng khi đi trộm cắp tài sản; 01 áo khoác kẻ sọc caro màu đỏ; 01 đôi dép màu đen; 01 nón bảo hiểm lưỡi trai màu trắng; 01 áo thun màu hồng; 01 quần thun lửng màu hồng, là trang phục A mặc khi đi trộm cắp tài sản; 01 gói niêm phong số 1008/24 bên ngoài có chữ ký ghi tên Thượng úy Nguyễn Văn Út L (Giám định viên) và cán bộ điều tra Bùi Ngọc Quang V; 01 biển số 52X5-9297.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết T: 01 điện thoại hiệu HTC đã qua sử dụng, số Imel 352636073591120; 01 điện thoại hiệu Oppo đã qua sử dụng, số Imel 869125026231816; 01 điện thoại hiệu Nokia màu hồng đã qua sử dụng, số Imel 357723100191150, sim số: 0936818945, là điện thoại của T sử dụng để liên lạc cá nhân;
- - Trả lại cho bị cáo Hoàng Vũ Thanh A: 01 điện thoại hiệu Vivo màu vàng đã qua sử dụng, số Imel 865717064273280; 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, số Imel 353147113014353, là điện thoại của A sử dụng để liên lạc cá nhân.
- - Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, TP . phối hợp với Công an quận B, TP . xử lý theo quy định của pháp luật đối với: 01 xe máy kiểu Sirius; số máy: 5C63080967, số khung: RLCS5C6308Y080367, xe cũ đã qua sử dụng, là phương tiện T và A sử dụng khi đi trộm cắp tài sản.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Về quyền kháng cáo: các bị cáo Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
- Buộc bị cáo Nguyễn Viết T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 04 (Bốn) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 10/03/2024.
- Buộc bị cáo Hoàng Vũ Thanh A phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 10/03/2024.
Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 156/PNK ngày 01/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.
Buộc các bị cáo Nguyễn Viết T, Hoàng Vũ Thanh A. Mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm..
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 223/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 223/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
