|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------- |
Bản án số: 223/2024/HSST
Ngày: 11/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Bính
- Bà Lê Thị Kiều Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2024/QĐXXST-HS ngày 17/9/2024 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 06/TB –TA ngày 26/9/2024, đối với bị cáo:
Lê Xuân P; Giới tính: Nam, Sinh ngày 08 tháng 8 năm 1979 tại tỉnh Bình Thuận; HKTT và nơi ở: khu phố B, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: KinhQuốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: không rõ; Con bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1941; Vợ: Bùi Thị Mỹ D, sinh năm 1974; Con: có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “Có mặt”.
* Người bị hại:
Huỳnh Văn T, sinh năm 2000 ( có mặt).
Địa chỉ: khu phố B, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
*Người làm chứng:
- 1/Bùi Thị Mỹ Dung, sinh năm 1974.
- 2/Lê Xuân N1, sinh năm 2000.
- 3/Lê Thị Trọng N, sinh năm 1989.
Cùng địa chỉ: khu phố B, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/01/2024, Lê Xuân P và bà Lê Thị Trọng N (sinh năm 1976, trú khu phố B, phường L, thành phố P) xảy ra cãi vã. Do bênh vực bà N nên Huỳnh Văn T (sinh năm 2000, là con của bà N) có xô xát với P. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31/01/2024, Lê Xuân N1 (sinh năm 2000, con trai của P) thấy T đang đứng trước nhà thì N1 nhớ lại việc T xô xát P nên N1 đi đến chửi bới T. Bà N can ngăn nhưng T vẫn chạy từ trong nhà ra, dùng chân đạp 01 cái vào tay phải N1 làm N1 ngã xuống đường. Lúc này, bà Bùi Thị Mỹ D (sinh năm 1974, là mẹ của N1) bảo P chạy ra xem sao, đồng thời bà D chạy ra đỡ N1 dậy. Thấy N1 bị T đánh, P cầm 01 con dao Thái Lan trên tay trái từ trong nhà chạy ra đâm 01 nhát theo hướng từ dưới lên trên trúng vào ngực phải của T gây thương tích. Sau đó T được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ1 để điều trị. Ngày 08/02/2024, T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với P và giám định thương tích.
Vật chứng của vụ án:
Thu giữ từ Lê Xuân P: 01 con dao kim loại màu trắng dài 15cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dương dài 08cm, lưỡi dao có đầu nhọn dài 07cm, có quấn băng keo đen đoạn gần cán dao.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 295/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 04/4/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Huỳnh Văn T:
“1. Các kết quả chính:
- - Vết thương thấu ngực phải gây tràn dịch – tràn khí màng phổi phải, tổn thương thùy giữa phổi phải đã được điều trị nội khoa. Hiện tại chức năng hô hấp trong giới hạn bình thường, còn hình ảnh tràn dịch màng phổi phải lượng rất ít trên phim CT-Scanner ngực; để lại sẹo vết thương vùng ngực phải kích thước (5 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 8% + 4% + 1%.
2. Kết luận:
- - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Huỳnh Văn T tại thời điểm giám định là 13%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- - Kết luận khác:
- + Vết thương do vật sắc nhọn gây ra.
- + Vết thương có chiều hướng tác động từ trước ra sau, với lực tác động mạnh.
- + Hiện không xác định cố tật”.
Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKSPT -HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Lê Xuân P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 02 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 02 Điều 134; b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 xử phạt bị cáo Lê Xuân P mức án từ 18 đến 21 tháng tù và đề nghị biện pháp tư pháp.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31/01/2024, trước nhà Huỳnh Văn T thuộc khu phố B, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, T và Lê Xuân N1 xảy ra mâu thuẫn, do bênh vực N1 nên bị cáo Lê Xuân P đã dùng 01 con dao kim loại màu trắng dài 15cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dương dài 08cm, lưỡi dao có đầu nhọn dài 07cm đâm 01 nhát vào ngực phải của T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 02 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy, bị cáo là người đã trưởng thành, ý thức được hành vi của mình đối với xã hội, thế nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo đã có hành vi dùng dao gây thương tích cho ông T với tỷ lệ 13%.
Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện bản chất hung hăng, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý bằng biện pháp hình sự nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- - Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên toà bị cáo xin được bồi thường khắc phục hậu quả gây thương tích cho bị hại, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (hai bên đã giao nhận tiền), bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ. Đồng thời đối với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[5] Biện pháp tư pháp:
- - Về trách nhiệm bồi thường dân sự: bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
- - Về xử lý vật chứng: 01 con kim loại màu trắng dài 15cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dương dài 08cm, lưỡi dao có đầu nhọn 07cm có quấn băng keo đoạn gần cán dao là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm đ khoản 02 Điều 134; điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: điểm c khoản 02 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 01 Điều 47 Bộ Luật hình sự.
Tuyên: tịch thu tiêu huỷ 01 con dao kim loại màu trắng dài 15cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dương dài 08cm, lưỡi dao có đầu nhọn dài 07cm, có quấn băng keo đen đoạn gần cán dao là vật không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 162 ngày 16/8/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết).
- - Về án phí: Căn cứ điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Đ a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Xuân P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 02 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án Dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bị hại. Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo, bị hại là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/10/2024). .
|
Nơi nhận:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa Vũ Thị Thu Hà |
Bản án số 223/2024/HSST ngày 11/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 223/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân P phạm tội " Cố ý gây thương tích"
