Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:223/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn;

Ông Vương Đình Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2024/TLST-HS ngày 16/7/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QÐST-HS ngày 17/7/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn Ư, sinh năm: 1998; Giới tính: Nam quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Xóm R, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở: phòng C, nhà số A đường T, thôn T, xã A, huyện H, Hà Nội.

Con bà: Bùi Thị B; Bị cáo không có bố và không có anh chị em ruột

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; ( có mặt)

Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị N - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H Chi nhánh S ( có mặt)

2. Họ tên: Bùi Văn Đ, sinh năm: 1990; Giới tính: Nam quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi HKTT: Xóm Rậm, xã Mỹ Thành, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình.

Chỗ ở: phòng 302, nhà số 10 đường Thịnh Phát, thôn Trường An, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Con ông: Bùi Văn R và Con bà: Bùi Thị N1; Bị cáo có vợ là Bùi Thị L 02 con lớn sinh năm 2017 nhở sinh năm 2019

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; (có mặt).

Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Quang Á- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H Chi nhánh S ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 05 phút, ngày 01/4/2024, tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận N, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn, khi đến khu vực khu vực cây xăng số C đường H, phường T, N, Hà Nội phát hiện 03 nam thanh niên đang trao đổi, trong đó 01 nam thanh niên ngồi trên xe máy Honda Wave, BKS: 28N1- 513.85, 02 nam thanh niên còn lại đứng dưới lòng đường có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Thấy tổ công tác một nam thanh niên đã bỏ chạy thoát, nam thanh niên còn lại cùng người ngồi trên xe máy bị giữ lại để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện ở tay trái của nam thanh niên đang đứng dưới lòng đường có 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng, còn ở tay phải có số tiền 400.000 đồng. Tại chỗ, người này khai tên là Bùi Văn Ư, còn nam thanh niên ngồi trên xe máy tên là Bùi Văn Đ; chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc là ma túy loại Heroine của Ư và Đ mang đi bán cho nam thanh niên vừa bỏ chạy thoát được 400.000 đồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và dẫn giải Ư và Đ về Công an quận N để xác minh làm rõ (BL 56-58).

Vật chứng thu giữ (BL 60-61):

  • - 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng; Số tiền 400.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro; 01 xe máy Honda wave, BKS: 28N1-513.85.

Tại bản Kết luận giám định số 2517/KL-KTHS ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng là ma túy loại heroin khối lượng: 0,199 gam. (BL 67)

Quá trình điều tra xác định:

Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ là các đối tượng nghiện ma túy, cùng thuê trọ tại phòng 302, nhà số A đường T, thôn T, xã A, huyện H, Hà Nội. Khoảng 10 giờ ngày 01/4/2024, Ư gọi điện đến số điện thoại 0396.136.xxx cho một người đàn ông tên T (Ư lưu tên trong danh bạ điện thoại là “Bố già”) để hỏi mua 300.000 đồng ma túy loại Heroine về để bán kiếm lời. T đồng ý và hẹn Ước ra khu vực đầu đường T, thôn T, xã A, huyện H, Hà Nội để giao dịch. Ước đi bộ ra đầu đường T thì gắp T điều khiển xe ôtô Mitsubishi màu cam (Ước không nhớ BKS) đến đón Ư ra quán C1 địa chỉ tại KĐT G, xã A, huyện H. Tại đây, T đã bán cho Ư 01 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng. Ước nhận ma túy rồi cất giấu vào túi áo rồi trả cho T số tiền 300.000 đồng. Sau đó, Ư được T chở về đầu đường T để đi bộ về phòng trọ. Tại đây, Ư kể với Đ đã mua được gói ma túy trên và đưa gói ma tuý cho Đ xem. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/4/2024, có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0337.522.xxx gọi đến số điện thoại 0966.612.xxx của Ư để hỏi mua 400.000 đồng ma túy Heroine rồi hẹn Ước mang đến khu vực cây xăng số C đường H, phường T, quận N giao dịch, Ư đồng ý. Sau đó, Ư nói với Đ có khách ở cầu C hỏi mua 400.000 đồng ma túy H và rủ Đ đi bán ma túy cùng, Đ đồng ý, sau đó, Ư điều khiển xe máy Honda Wave, BKS: 28N1- 513.85 chở Đ đến khu vực cây xăng số C H. Khi đến nơi Ư xuống xe và gọi điện lại cho khách mua ma túy để giao ma túy thì có một nam thanh niên đi bộ đến và đưa cho Ước số tiền 400.000 đồng. Ư cầm tiền rồi lấy gói ma túy ra để đưa cho người này nhưng chưa kịp đưa ma túy thì bị Đội CSĐTTP về ma tuý kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng, nam thanh niên mua ma túy bỏ chạy thoát. (BL 98-110, 116-127).

Về nguồn gốc số ma tuý: Bùi Văn Ư khai mua ma tuý của một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0396.136.xxx, điều khiển xe ôtô Mitsubishi màu cam không rõ biển số. Đến khoảng 11 giờ 20 phút ngày 05/5/2024, tại đường Q, T, N, Hà Nội, Đội CSĐTTP về ma tuý đã bắt quả tang Trần Quang T (Sinh năm: 1951; Nơi thường trú: Tổ A, khu dân cư T, phường H, thị xã P) đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, Trần Quang T khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 01/04/2024, Ư đã gọi đến số điện thoại 0396.136.xxx của T hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Heroine. T đồng ý và điều khiển xe ôtô Mitsubishi Xpander màu cam đen, BKS: 19A-516.17 đến đầu đường T, thôn T, xã A, huyện H, Hà Nội đón U ra quán C1 tại Khu đô thị G, huyện H. Tại đây, T đã bán cho Ư 01 gói ma tuý heroin với giá 300.000 đồng, sau khi bán ma tuý xong thì T đã chở Ư về đầu đường T rồi điều khiển xe ôtô ra về. Lời khai của Trần Quang T phù hợp với lời khai của Bùi Văn Ư. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Bùi Văn Ư và Trần Quang T nhận dạng, kết quả: Ước đã nhận ra Trần Quang T là người bán ma tuý cho Ư và T nhận ra Ư là người mua ma tuý của T vào khoảng 10 giờ ngày 01/04/2024 tại quán C1. Ngày 09/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Trần Quang T về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 25/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự số 2907 đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T cho Ư vào ngày 01/4/2024 để nhập vào vụ án hình sự số 126 ngày 09/4/2024 để điều tra theo quy định (BL 89, 134-135, 141-147A).

Về đối tượng mua ma túy của Bùi Văn Ư: Ước khai nam thanh niên mua ma tuý sử dụng số điện thoại 0337.522.xxx, không rõ nhân thân, lai lịch. Quá trình điều tra xác minh số điện thoại 0337.522.xxx, xác định: Chủ thuê bao là anh Nguyễn Công M (Sinh năm: 2000; Nơi thường trú: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Quá trình xác minh xác định anh M khai không đăng ký, sử dụng và cũng không biết ai đang sử dụng số điện thoại 0337.522.xxx; Tiến hành cho Ư và Đ nhận dạng anh M, kết quả: Ước và Đ khẳng định anh M không phải là nam thanh niên mua ma tuý của Ư và Đỉnh ngày 01/4/2024. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý (BL 130-133, 136-139).

Đối với xe Honda Wave màu đỏ, BKS: 28N1-513.85, quá trình xác minh xác định: chủ sở hữu là Bùi Văn Ư (tra cứu tại Phòng PC02, C2 xác định xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng (BL 71-72), Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ và xử lý theo pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của Ư và Đ phù hợp nhau và phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 180/CT-VKS ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân quận N truy tố các bị cáo Bùi Văn Ư, Bùi Văn Đ về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 - Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

  • - Bị các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:
    • - Bùi Văn Ư từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2023.
    • - Bùi Văn Đ từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2023.
    • + Hình phạt bổ sung các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
    • - Xử lý vật chứng: Áp dụng điều a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
      • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Văn Ư cán bộ Lưu Trọng Đ1 và Giám định viên Trần NGọc C
      • + Tịch thu sung công Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 11 Pro vỏ màu hồng, bên trong gắn sim.
      • + 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu sơn đỏ BKS: 28N1- 51385; số khung: RLHJA 3920NY533451; số máy: JA 39E3003839
      • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng;
  • Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn Ư: Không tranh luận về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh khó khăn, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên mong được xử với mức án thấp nhất. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn phần án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  • Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn Đ: Không tranh luận về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh khó khăn, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên mong được xử với mức án thấp nhất. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn phần án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 18h05' ngày 01/4/2024, tại khu vực cây xăng số C đường H, phường T, quận N, Hà Nội, Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ đã có hành vi bán trái phép 0,199 gam ma túy loại heroin cho đối tượng không quen biết sử dụng số điện thoại 0337.522.xxx để lấy số tiền 400.000đ thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận N bắt quả tang cùng vật chứng.

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Các bị cáo Bùi Văn Ư, Bùi Văn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[2] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo là người dân tộc Mường sống ở địa phương có hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội mà vẫn thực hiện do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại ma túy mà bị cáo mua bán, căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Hình phạt bổ sung các bị cáo Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc Mường, có hộ khẩu thường trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các bị có có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2.Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

-Xử phạt bị cáo Bùi Văn Ư 30 ( ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/04/2024.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/04/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Văn Ư cán bộ Lưu Trọng Đ1 và Giám định viên Trần Ngọc C

+ Tịch thu sung công Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 11 Pro vỏ màu hồng, bên trong gắn sim.

+ 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu sơn đỏ BKS: 28N1- 51385; số khung: RLHJA 3920NY533451; số máy: JA 39E3003839

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng;

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ

5. Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
  • - Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm;
  • - Trại tạm giam số 1 - CAHN;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 223/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn Ư và Bùi Văn Đ phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger