Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 223/2024/HS-ST

Ngày: 23/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Huỳnh Tiến Dũng;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hương;

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Loan- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 164/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Gia L (tên gọi khác: không), sinh năm: 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; số CCCD: [...]; thường trú: 21/3/1 đường A, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đã cư trú: 9 L, khu phố A, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: không có nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Minh T và bà: Phan Thị Thanh H; hoàn cảnh gia đình: có chồng và 03 con, con lớn nhất sinh năm: 2015; con nhỏ nhất sinh năm: 2023; tiên án, tiền sự: không;

Bị tạm giữ từ ngày 10/4/2020 đến ngày 13/4/2020; ngày 14/4/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú với lý do đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; bị cáo bỏ trốn bị truy nã theo Quyết định truy nã bị can số 20 ngày 28/8/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận T (nay là thành phố T). Ngày 28/9/2023, bị cáo bị bắt giữ; bị tạm giữ từ ngày 28/9/2023 đến ngày 04/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú với lý do đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi;

Bị cáo tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Người bị kết án Phạm Công T1; sinh năm 2000 (đang chấp hành án theo Bản án số 238/2020/HSST ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh); (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 10 giờ 15 phút, ngày 10/04/2020; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an quận T phối hợp Công an phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra tại phòng trọ số C, nhà số A đường A, tổ H, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang Phạm Công T1 (cư trú: số A đường A, tổ H, khu phố E, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: B, P, N, tỉnh Ninh Thuận) có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Một (01) gói nylon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể không màu được thu giữ trên kệ gỗ trong góc phòng bên trái từ cửa đi vào của T1. Qua giám định là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine (MA), khối lượng 0,3250g; một (01) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone có sim số 0974.289.xxx.

Sau khi bị bắt, Phạm Công T1 khai nhận là người nghiện ma túy tổng hợp từ tháng 02/2020 cho đến nay. Để có tiên tiêu xài và ma túy sử dụng, từ ngày 30/03/2020, T1 bắt đâu mua ma túy của chị L (không rõ lai lịch) tại phòng trọ số I, nhà số I L, khu phố A, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vê bán lại cho người nghiện để kiếm lời thông qua số điện thoại 0974.289.xxx. Tuyên mua ma túy của L được 04 (bốn) lân, mỗi lân mua của L với số tiên 1.500.000 đồng.

Sau đó, T1 phân ra thành 10 gói ma túy bán lại cho người nghiện với giá 200.000 đồng/01gói, thu lợi 500.000 đồng và ma túy để bản thân sử dụng. Tiên lời kiếm được từ việc bán ma túy, T1 dùng để tiêu xài cho bản thân. Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 09/4/2020, T1 đi đến phòng trọ của L mua 01 (một) gói ma túy với giá 1.500.000 đồng. Sau đó T1 về phòng trọ phân ra thành 10 gói ma túy và bán cho các người nghiện được 09 (chín) gói ma túy, còn 01 (một) gói ma túy chưa bán được Tuyên cất giấu trên kệ gỗ trong góc phòng bên trái từ cửa đi vào của T1. Lúc 10 giờ 15 phút ngày 10/04/2020, T1 đang ở phòng trọ thì công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang T1 và thu giữ vật chứng như trên. Qua test ma túy đối với T1 cho kết quả dương tính với chất ma túy tổng hợp Methamphetamine (MA).

Từ lời khai của T1, lúc 11 giờ 00 phút, ngày 10/4/2020; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an quận T phối hợp Công an phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra tại phòng trọ số I, số I L, khu phố A, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang Lâm Gia L có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Ngoài ra, trong quá trình kiểm tra có Ngô Kim L1 (chồng của L) có mặt tại đó nên mời về trụ sở Công an phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để làm rõ.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) bịch nylon màu đen bên trong có một (01) gói nylon chứa tinh thể không màu được thu giữ trên gác phòng ngủ của L. Qua giám định là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, cân nặng 15,5390g. 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone có sim số 0902.394.xxx (thu giữ của L).

Ngày 14/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điêu tra- Công an quận T (nay Thành phố T) ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam 03 tháng 24 ngày từ ngày 16/4/2020 đến 07/8/2020 đối với Phạm Công T1 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 70 ngày 15/4/2020 đối với Lâm Gia L do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Quá trình điêu tra L bỏ trốn khỏi địa phương đi đâu không rõ, Cơ quan Cảnh sát điêu tra- Công an quận Tra Q đinh tách vụ án số 36 ngày 28/8/2020, Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can số 293 ngày 28/8/2020, Quyết định tạm đình điều tra bị can Lâm Gia L số 29 ngày 28/8/2020 và ra Quyết định truy nã số 20 ngày 28/8/2020.

Ngày 28/9/2023, Công an phường L, Thành phố T phối hợp Đ - Công an Thành phố T bắt Lâm Gia L theo Quyết định truy nã số 20 ngày 28/8/2020 tại Công an xã H, huyện C, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điêu tra- Công an thành phố T ra Quyết định phục hồi điêu tra vụ án hình sự đối với bị can số 51/QĐ/ĐCSMT; Quyết định phục hồi điều tra bị can số 47 ngày 02/10/2023; Quyết định đình nã số 49 ngày 28/9/2023 đối với L.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T, Lâm Gia L khai nhận:

Bản thân L sử dụng ma tuý tổng hợp từ năm 2017 cho đến nay. Để có tiên tiêu xài và ma túy sử dụng, từ tháng 03/2020 L bắt đâu bán ma túy cho người nghiện thông qua số điện thoại 0902.394.xxx. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 08/4/2020 L đi đến khu vực chung cư (không nhớ rõ) tại phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên thường gọi “Đại ca” (không rõ lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy với giá 8.000.000 đồng.

Sau đó, L về phòng trọ của mình cất giấu gói ma túy trên vào một 01 (một) bịch nylon màu đen để trên gác phòng ngủ của L. Khi người nghiện cân mua bao nhiêu ma túy thì L phân nhỏ gói ma túy trên và bán cho người nghiện. L bán cho T1 01(một) gói ma túy với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09/4/2020 tại trước cửa phòng trọ của L. Số ma túy còn lại vào lúc 11 giờ 00 phút, ngày 10/4/2020, bị Công an quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính phòng trọ của L phát hiện bắt quả tang L và thu giữ vật chứng như nội dung nêu trên.

Quá trình điều tra xác định ngoài lân bắt quả tang L bán ma túy cho T1 thì trong khoảng thời gian từ 30/3/2020 đến 06/4/2020 L đã bán ma túy cho T1 03 lần tại trước phòng trọ trọ số 9, số I L, khu phố A, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với lời khai, biên bản đối chất giữa L và T1.

Bản Kết luận giám định số 607/KLGĐ-H ngày 20/9/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu ký hiệu mẫu m thu giữ của Lâm Gia L cân giám định là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 15,5390 gam, loại Methamphetamine;

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Lâm Gia Linh dương tính với ma tuý.

Ngô Kim L1 khai nhận L1 là chồng của L, L1 biết L sử dụng ma túy tổng hợp từ năm 2017 và không cho L sử dụng vì nuôi con nhỏ. Việc L mua ma túy ở đâu, của ai thì L1 không biết, L1 không tham gia và cũng không liên quan đến việc mua ma túy của L. Bản thân L1 có sử dụng ma túy với bạn bè ngoài xã hội khi đi làm, không tham gia sử dụng cùng với L. Qua test ma túy đối với L1 cho kết quả dương tính với chất ma túy tổng hợp loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) gói niêm phong ghi vụ: 607/20, các chữ ký ghi tên Thiếu tá Võ Anh T2 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định (thu giữ của L);
  • - 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone, có sim số 0902.394.xxx (thu giữ của L).

Tại bản Cáo trạng số 169/CT-VKSTPTĐ ngày 28/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Gia L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điêu 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lâm Gia L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lâm Gia L. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2 Điêu 251; điểm s khoản 1 Điêu 51; Điêu 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; xử phạt bị cáo Lâm Gia L từ 08 năm đến 09 năm tù giam;

- Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đây đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vê tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điêu tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vê nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Phạm Công T1 khai nhận vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 10/4/2020, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,3250 gam thì bị phát hiện bắt quả tang, T1 khai nhận số ma túy bị thu giữ T1 mua của bị cáo Lâm Gia L để bán cho các con nghiện kiếm lời. Căn cứ vào lời khai của T1, Đội Cảnh sát điều tra- Công an quận T (nay là thành phố T) khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo địa chỉ phòng trọ số 9, số nhà I L, phường L, quận T (nay là thành phố T) vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 10/4/2020, bắt quả tang bị cáo Lâm Gia L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 15,5390 gam;

Căn cứ vào Kết luận giám định số 607/KLGĐ- H ngày 17/4/2020 của Phòng K- Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 15,5390 gam, loại Metham phetamine;

Căn cứ vào Kết luận giám định số 608/KLGĐ- H ngày 17/4/2020 của Phòng K- Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3250 gam, loại Metham phetamine;

Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cùng các tài liệu, tang vật chứng thu giữ được trong quá trình điêu tra. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Gia L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điêu 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách Nhà nước vê độc quyên quản lý các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, tình hình an ninh- kinh tế- chính trị mà còn làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây khó khăn trong công tác phòng chống tội phạm của Nhà nước. Vì vậy, đối với tội phạm ma túy cân phải có mức án nghiêm khắc trước pháp luật.

Bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Phạm Công T1 cụ thể như sau: Vào các ngày 30/3/2020, bán cho T1 01 gói ma túy giá 1.500.000 đồng. Ngày 03/4/2020, bán cho T1 01 gói ma túy giá 1.500.000 đồng. Ngày 06/4/2020, bán cho T1 01 gói ma túy giá 1.500.000 đồng. Ngày 10/4/2020, bán cho T1 01 gói ma túy giá 1.500.000 đồng. Tổng cộng bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy cho T1 04 lần. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên. Đồng thời, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 15,5390 gam và khối lượng ma túy mà bị cáo bán cho Phạm Công T1 là 0,3250 gam; tổng cộng khối lượng ma túy mà bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 15,8640 gam. Đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại các điểm b, i khoản 2 của điêu luật đã viện dẫn.

Với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cân phải áp dụng biện pháp tạm giam để đảm bảo cho việc điều tra, truy tố và xét xử nhưng do bị cáo nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo bỏ trốn bị truy nã hơn 03 năm mới bị bắt giữ; khi bắt giữ thì bị cáo đang mang thai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo bị truy nã hơn 03 năm đã gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để có tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo;

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; hiện nay bị cáo có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; giảm cho bị cáo một phân hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4] Về thu lợi bất chính: Bị cáo L thu lợi bất chính số tiền 2.000.000 đồng về việc mua bán trái phép chất ma túy đối với T1. Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo L nộp lại số tiên thu lợi bất chính nêu trên để sung vào ngân sách Nhà nước;

[5] Xử lý vật chứng:

Thu giữ của bị cáo các vật chứng sau:

  • - 01 (một )gói niêm phong ghi vụ: 607/20 có chữ ký của Thiếu tá Võ Anh T2 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định- vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên HĐXX quyết định tịch thu, tiêu hủy;
  • - 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone có sim số 0902.394.xxx- vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội nên HĐXX quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ngoài ra, căn cứ vào mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra, cân vận dụng khoản 5 Điêu 251 Bộ luật hình sự năm năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phạt bị cáo nộp số tiên tương ứng với hành vi phạm tội để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Đối với đối tượng tên Đại ca (chưa xác định rõ lai lịch)- là người bán ma túy cho bị cáo. Hội đồng xét xử đê nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T tiếp tục xác minh, điều tra để có căn cứ xử lý.

Đối với Ngô Kim L1- chồng của bị cáo khai nhận là biết bị cáo sử dụng ma túy, có khuyên bị cáo không sử dụng do đang nuôi con nhỏ; không biết bị cáo có ma túy nguồn gốc ở đâu mà có và không biết việc bị cáo mua bán trái phép chất ma túy; L1 không sử dụng ma túy cùng bị cáo mà sử dụng với bạn bè bên ngoài; lời khai này của L1 phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa nên không có căn cứ xử lý L1 là đồng phạm của bị cáo;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Gia L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  2. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điêu 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; Điêu 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Lâm Gia L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án (được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 10/4/2020 đến ngày 13/4/2020 và từ ngày 28/9/2023 đến ngày 04/10/2023);

    Áp dụng khoản 5 Điêu 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Phạt tiền bổ sung bị cáo Lâm Gia L số tiên 5.000.000 (Năm triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điêu 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ: 607/20 có chữ ký ghi tên của Thiếu tá Võ Anh T2, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định có khối lượng 14,9364 gam;
    • - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone có sim số 0902.394.xxx;
    • (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/182C ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh);
    • - Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước;
  4. Căn cứ vào khoản 2 Điêu 135 và khoản 2 Điêu 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyên kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điêu 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyên yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điêu 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA.HS Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 223/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger