Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:223/2024/HS-ST

Ngày 19-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Nguyễn Thị Bích Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Nhật H - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 227/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 582/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Đình V (tên gọi khác Mai Văn V1), sinh ngày 28 tháng 7 năm 1965 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đình L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Lê Thị H1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 70 ngày 25/12/1990, Toà án nhân dân huyện An Hải xử phạt Mai Văn V1 (sinh tháng 8/1965) 3 năm tù về tội Cướp tài sản công dân, Bản án hình sự phúc thẩm số 17 ngày 13/3/1991, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng cải án sơ thẩm, xử Mai Văn V1 (sinh tháng 6/1965) 30 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân, án phí hình sự sơ thẩm 15.000 đồng, không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm (mục trích yếu ghi: Nguyễn Văn V2). Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/1990. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/2/1993. Xác minh tại Toà án nhân dân huyện An Dương, Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, không có hồ sơ thi hành án của hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm trên (đã xoá án tích); bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/3/2024, đến ngày 09/3/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma tuý Heroine từ năm 2010 nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/03/2024, V2 điều khiển xe mô tô Honda Wave BKS 34N9-8094 đến khu vực đường T, L, Hải Phòng, gặp và hỏi mua 200.000 đồng ma tuý Heroine của một người đàn ông không quen biết. Người đàn ông bảo V2 đi theo đến ngõ C L, Ngô Q, Hải Phòng. Tại đây, V2 đưa cho người đàn ông một tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, người đàn ông nhận tiền, đưa cho V2 01 gói nilon chứa chất bột màu trắng rồi bỏ đi. V2 giấu gói ma túy vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc, định điều khiển xe tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/03/2024 tại khu vực ngõ C L, phường L, N, Hải Phòng, Công an quận N phát hiện, bắt quả tang Mai Đình V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy,

Vật chứng: Thu giữ: 01 gói nilon kích thước khoảng 02 x 02 cm trong chứa chất bột màu trắng tại túi áo khoác bên phải của V, 01 xe mô tô Honda Wave BKS 34N9-8094.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Mai Đình V dương tính với test thử chất ma tuý M, H2.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mai Đình V tại không thu giữ vật chứng liên quan đến ma tuý.

Kết luận giám định số 266/KL-KTHS ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,13 gam, là loại: Heroine.

Kết quả xác minh, xe mô tô Honda Wave BKS 34N9-8094 có số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không bị tẩy xoá hoặc sửa chữa các ký tự. Đăng ký xe mang tên anh Phạm Văn N (sinh năm 1977, nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện K, Hải Dương). Đầu năm 2022, anh Phạm Văn N đã bán xe mô tô trên cho chị Lê Thị H1 (sinh năm 1970, nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng) là vợ của Mai Đình V với giá 4.700.000 đồng (không có giấy tờ mua bán xe). Chị H1Mai Đình V sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi lại hàng ngày. Chị H1 không biết việc V sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận N quản lý: 01 phong bì niêm phong số 266MT/PC09 chứa 0,07 gam ma túy Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 xe mô tô Honda Wave BKS 34N9-8094.

Tại bản Cáo trạng số 228/CT-VKSND ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố Mai Đình V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Mai Đình V khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, v khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Đình V (tức Mai Văn V1) mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 266MT/PC09 chứa 0,07 gam ma túy Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; trả lại 01 xe mô tô Honda Wave BKS 34N9-8094 cho chị Lê Thị H1 là vợ của Mai Đình V. Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 14/5/2024, tại khu vực trước cửa nhà số A đường L, phường L, N, Hải Phòng, Mai Đình V bị Công an quận N bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép ma túy Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Kết luận giám định số 266/KL-KTHS ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,13 gam, là loại: Heroine. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

- Về tình tiết tăng nặng:

[5] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo bị kết án về tội Cướp tài sản công dân đã được xoá án tích thể hiện nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo tham gia quân đội từ năm 1983 đến năm 1986, được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Q1 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[7] Do nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn định nên không bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

[8] Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 266MT/PC09 chứa 0,07 gam ma túy Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; trả lại 01 xe mô tô Honda Wave BKS 34N9-8094 cho chị Lê Thị H1 là vợ của Mai Đình V.

- Về án phí:

[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[10] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với người bán ma tuý cho Mai Đình V chưa xác minh được lai lịch địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, v khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Mai Đình V (tên gọi khác Mai Văn V1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mai Đình V (tên gọi khác Mai Văn V1) 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 07/3/2024.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 266MT/PC09 chứa 0,07 gam ma túy Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; trả lại 01 xe mô tô Honda Wave BKS 34N9-8094 cho chị Lê Thị H1.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Mai Đình V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Mai Đình V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - CQCSĐT Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan THA Hình sự Công an quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 223/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viẹt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger