Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 223/2023/HSST

Ngày 14/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thu Trang
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Loan

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 196/2023/TLHS-ST ngày 11/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2023/QĐXXST-HS ngày 28/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1978

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Nơi cư trú: xóm N, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do. Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không. Con ông: Nguyễn Xuân D (đã chết); Con bà: Phạm Thị L (đã chết); Gia đình có 06 anh, chị em. Bị cáo là con thứ 4. Vợ: Đinh Thị T1, sinh năm 1982; Con có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0013016/QĐ-XPHC ngày 19/4/2021 của Công an xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong ngày 20/4/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 21/3/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại phiên toà).

Người làm chứng:

  • Anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
  • Anh Dương Công B, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Người chứng kiến

  • Anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 1973 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ C, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Hồi 13 giờ ngày 21/3/2023, tổ công tác của Công an phường H, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 10 của phường thì phát hiện có ba người đàn ông trong lán xây dựng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra người đàn ông lần lượt khai nhận tên là Nguyễn Xuân T; Nguyễn Xuân T2 (sinh năm 1983, nơi cư trú: Xóm N, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) và Dương Công B (sinh năm 1988, nơi cư trú: Xóm Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên). Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần dài phía trước màu nâu của T đang treo ở dây phơi quần áo ở gần vị trí của T có 04 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột màu trắng, T khai đó là ma tuý H mục đích T mua về để trả công cho thợ xây làm thuê cho T. Kiểm tra trên người T, T2, B không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác Công an thành phố T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,503 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên cho vào phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định.

Ngày 23/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân T tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 537/KL-KTHS ngày 30/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1, gửi giám định là chất ma tuý; Loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,503 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/03/2023, T đi bộ từ lán xây dựng tại khu vực đường B thuộc tổ A, phường H, thành phố T đến khu vực cổng chùa P thuộc phường H, thành phố T mục đích tìm mua ma tuý về để trả công cho thợ xây. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 05 gói ma túy Heroine đều được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 500.000 đồng. Mua xong, T cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi về lán xây dựng cất giấu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T lấy ra 01 gói ma túy trong số 05 gói ma túy trên ra rồi cho vào chiếc túi xách treo trên dây phơi trong lán và bảo Nguyễn Xuân T2Dương Công B là 02 người thợ xây đang làm thuê cho T đến lấy để chia nhau sử dụng. BT2 đồng ý và lấy 01 gói ma túy mà T vừa để vào túi rồi cùng nhau sử dụng. T không sử dụng ma túy cùng với T2B tại thời điểm đó. Số tiền để mua gói ma túy trên là 100.000 đồng. T sẽ trừ số tiền 50.000 đồng của mỗi người vào tiền công mà T trả cho T2B. 04 gói ma túy Heroine còn lại T cho vào túi quần phía bên trái đang mặc rồi thay ra và treo lên dây phơi trong lán. Số ma tuý trên nếu không bị phát hiện T sẽ tiếp tục đưa cho T2B sử dụng và trừ vào tiền công của T2B theo thỏa thuận T sẽ trừ mỗi người 100.000 đồng - 150.000 đồng tiền mua ma tuý vào tiền công hàng ngày. Đến khoảng 12 giờ 40 phút ngày 21/03/2023, T, BT2 đang ở trong lán thì bị tổ công tác Công an phường H, T bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ 01 chiếc quần vải màu nâu, đã qua sử dụng.

Lời khai của Nguyễn Xuân T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Lời khai của người chứng kiến; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án (BL: 39-43;48-49;51-54-57).

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T1, T2 bên trong chứa ma tuý và vỏ bao gói mẫu; 01 quần dài màu nâu đã qua sử dụng. Hiện đang được lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Tại bản cáo trạng số 201/CT-VKSTPTN, ngày 09/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T mức án từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.

Về hình phạt bổ sung (bằng tiền): Phạt bổ sung bị cáo từ 5 – 10 triệu đồng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 và 01 quần dài màu nâu đã qua sử dụng. Truy thu số tiền 100.000 đồng là tiền bán ma tuý.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/03/2023, T đi bộ từ lán xây dựng tại khu vực đường B thuộc tổ A, phường H, thành phố T đến khu vực cổng chùa P thuộc phường H, thành phố T mục đích tìm mua ma tuý về để trả công cho thợ xây. T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 05 gói ma túy Heroine với giá 500.000 đồng. Mua xong, T cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi về lán xây dựng cất giấu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T lấy ra 01 gói ma túy cho vào chiếc túi xách treo trên dây phơi trong lán và bảo Nguyễn Xuân T2Dương Công B là 02 người thợ xây đang làm thuê cho T đến lấy để chia nhau sử dụng. BT2 đồng ý và lấy 01 gói ma túy mà T vừa để vào túi rồi cùng nhau sử dụng. T không sử dụng ma túy cùng với T2B tại thời điểm đó. Số tiền để mua gói ma túy trên là 100.000 đồng. T sẽ trừ số tiền 50.000 đồng của mỗi người vào tiền công mà T trả cho T2B. 04 gói ma túy Heroine còn lại T cho vào túi quần phía bên trái đang mặc rồi thay ra và treo lên dây phơi trong lán, nếu T2B sử dụng thì sẽ trừ vào tiền công hàng ngày của T2B theo thoả thuận. T sẽ trừ mỗi người 100.000 đồng - 150.000 đồng tiền mua ma tuý vào tiền công hàng ngày. Đến khoảng 12 giờ 40 phút ngày 21/03/2023, T, BT2 đang ở trong lán thì bị tổ công tác Công an phường H, T bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận của Nguyễn Xuân T phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định...

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ ngày 21/3/2023, tại tổ A, phường H, thành phố T, Nguyễn Xuân T có hành vi tàng trữ 0,503 gam chất ma tuý, loại Heroine để nhằm mục đích trả công cho thợ xây làm thuê cho T thì bị tổ công tác của Công an phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng. Hành vi bán ma tuý cho 2 người của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS. Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ...

c) Đối với 2 người trở lên”;

[3]. Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra, bị cáo T có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân D được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

- Về nhân thân: Bị cáo T mặc dù chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, tuy nhiên chỉ vì mục đích kiếm lời cho bản thân nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội thực hiện lỗi cố ý trực tiếp.

[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo T mức án từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Mục đích bán ma tuý của bị cáo nhằm kiếm lời, nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt bổ sung (phạt tiền) bị cáo từ 5 – 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

[7]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 và 01 quần dài màu nâu đã qua sử dụng. Buộc bị cáo phải nộp số tiền thu lời bất chính từ việc bán ma tuý là 100.000 đồng.

[8]. Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa tại khu vực cổng chùa P thuộc phường H, thành phố T. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân lai lịch của người bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng vụ án xử lý.

[9]. Vấn đề khác: Đối với Dương Công BNguyễn Xuân T2 là người làm thuê cho T và được T trả công bằng việc sẽ mua ma túy cho sử dụng hàng ngày. Ngày 21/03/2023, BT2 không biết việc T cất giấu 04 gói ma túy, cũng không tham gia vào việc đi mua ma túy với T. Do vậy không có căn cứ để xử lý hình sự. Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 20/3/2023 của BT2. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T2 thời hạn là 12 tháng, B thời hạn 13 tháng.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/3/2023.
  3. Về phạt bổ sung (phạt tiền): Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
  4. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
  5. Về vật chứng: Buộc bị cáo T phải nộp số tiền thu lời bất chính từ việc bán ma tuý là 100.000 đồng vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu tiêu huỷ 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 và 01 quần dài màu nâu đã qua sử dụng.

    (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 172/QĐ-VKSTPTN ngày 09/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).

  6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
  7. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2023/HSST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 223/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Trọng - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger