TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 223/2024/HS-ST Ngày: 12/8/2024 | Vinh. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cảnh Thảo - Bà Phạm Thị Chiến
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Mỵ Nương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 201/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại hai điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh N theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15 tháng 02 năm 1995 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn S – sinh năm 1970 và bà: Nguyễn Thị C – sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 12/4/2024, Trần Văn T có nhu cầu sử dụng ma túy nên gọi điện thoại cho một người đàn ông tên A ở huyện Đ, tỉnh Nghệ An (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 200.000 đồng ma túy H và 500.000 đồng ma túy “đá” thì A đồng ý và hẹn T đến khu vực trồng ngô ở huyện Đ, tỉnh Nghệ An để giao dịch. Thống nhất xong, T điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn xanh xám đen, biển số 37E1- 534.88 đi đến điểm hẹn thì gặp và đưa cho A số tiền 700.000 đồng, Anh đưa cho T 01 bao ni lông màu đen, bên trong có 01 bao ni lông màu trắng, chứa chất tinh thể màu trắng và 01 gói bằng giấy chứa chất cục bột màu trắng. Mua được ma túy, T cất giấu trong người, rồi điều khiển xe máy đi về thành phố V. Trên đường đi, T vứt bao ni lông màu đen, lấy một ít ma túy Heroine ra sử dụng, số ma túy còn lại T để trong vỏ ni lông bao thuốc lá rồi cất giấu ở túi quần phía sau bên phải để sử dụng dần. Đến 22 giờ 15 phút ngày 12/4/2024, T điều khiển xe máy đi đến Cửa hàng X số A, đường K, xã H, thành phố V thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía sau bên phải của T 01 vỏ ni lông bao thuốc lá, bên trong có bao ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy “đá”), 01 gói giấy chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy heroine) và 01 chiếc xe máy Yamaha Exciter, biển số 37E1- 534.88. Tổ công tác đã đưa người cùng tang vật về trụ sở Công an phường Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 422/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 19/04/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Trần Văn T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine...có khối lượng là 0,445gam; Mẫu chất cục bột màu trắng (ký hiệu M2) thu giữ của Trần Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine ...có khối lượng là 0,080gam".
Căn cứ Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng của 02 chất ma túy thu giữ của Trần Văn T là: 0,445 gam Methamphetamine + 0,080 gam Heroine = 0,525 gam (Không phẩy năm trăm hai mươi lăm gam).
Cáo trạng số 215/VKS –TPV ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn T từ 15 đến 18 tháng tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã được niêm phong dán kín thu giữ của Trần Văn T; Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 12/4/2024, tại khu vực cây xăng dầu số A đường K, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T đang có hành vi cất giữ trái phép 0,445 gam ma túy (Methamphetamine) và 0,080 gam ma túy Heroin mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố V phát hiện, bắt quả tang, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 0,525 gam. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
[2.2]. Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy nên cần xử nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và chỉ cần xử bị cáo khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật.
Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo hiện không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[3] Về vật chứng: Phong bì thư niêm phong vật chứng ma túy thu giữ của Trần Văn T là chất cấm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc xe mô tô BKS 37E1-534.88 là tài sản của anh Trần Văn T1, anh T1 cho T mượn nhưng không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Đối với người tên Anh bán ma túy cho T do không biết lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
[4] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/4/2024.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ phong bì niêm phong chứa ma túy thu giữ của Trần Văn T còn lại sau khi giám định (Vật chứng có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/223 ngày 10/7/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.
Nơi nhận
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồ Hòa |
Bản án số 223/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 223/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST
