Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2024/DS-ST

Ngày 12-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân
  2. Bà Bùi Thị Thúy Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý An - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2024/TLST-DS ngày 19/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-DS ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1976; Địa chỉ: A đường L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; Địa chỉ: G (số C) đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Văn S trình bày:

Ông và ông Nguyễn Văn T có quen biết với nhau từ trước nên vào ngày 10/8/2023 ông đã cho ông T vay số tiền 150.000.000 đồng để trang trải việc làm ăn. Đến ngày 17/8/2023, ông T nói cần tiền để trang trải việc gia đình nên tiếp tục vay thêm của ông số tiền 100.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền ông T đã vay của ông là 250.000.000 đồng. Theo thỏa thuận miệng thì thời hạn cho mượn tiền là 01 tháng và việc cho mượn tiền không tính lãi.

Đến thời hạn thanh toán nợ, ông T không trả tiền cho ông theo cam kết nên ông đã nhiều lần gặp ông T và nhắn tin qua zalo đòi tiền nhưng ông T hẹn nợ nhiều lần vẫn không trả tiền cho ông mà còn cố tình tránh mặt. Ngày 23/02/2024, ông ra bưu điện gửi cho ông T thông báo yêu cầu thanh toán nợ nhưng ông T vẫn không có phản hồi nào. Nhận thấy, việc ông cho ông T vay số tiền trên để trang trải khó khăn của gia đình nhưng nay ông T không nghĩ đến sự giúp đỡ của ông mà còn cố tình chiếm dụng số tiền trên của ông, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Vì vậy, ông yêu cầu giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm trả cho ông số tiền nợ là 250.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy xác nhận vay tiền ngày 10/8/2023 và ngày 17/8/2023; chứng từ chuyển tiền ngày 10/8/2023 và ngày 17/8/2023.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án bằng hình thức niêm yết công khai và yêu cầu bị đơn có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Vào ngày 10/05/2024, Tòa án triệu tập bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, nguyên đơn có đơn từ chối hòa giải nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là hợp lệ.

Về nội dung vụ án, xét thấy nguyên đơn và bị đơn có quan hệ hợp đồng vay tiền theo các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong quá trình tố tụng: Giấy xác nhận vay tiền ngày 10/8/2023 và ngày 17/8/2023; chứng từ chuyển tiền ngày 10/8/2023 và ngày 17/8/2023. Bị đơn chưa trả nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về quan hệ vay tiền giữa ông Trần Văn S và ông Nguyễn Văn T, theo lời khai của ông S và các chứng cứ do ông S cung cấp trong quá trình tố tụng như: Giấy xác nhận vay tiền ngày 10/8/2023 và ngày 17/8/2023 có chữ ký và chữ viết ông Nguyễn Văn T; chứng từ chuyển tiền ngày 10/8/2023 và ngày 17/8/2023 thể hiện: Ông T có vay của ông S 02 lần tiền, ngày 10/8/2023 vay 150.000.000 đồng và ngày 17/8/2023 vay 100.000.000 đồng.

[3] Theo Giấy xác nhận vay tiền ngày 10/8/2023 và ngày 17/8/2023 không thể hiện thời hạn trả tiền và không thể hiện mức lãi suất thỏa thuận; tuy nhiên ông S cho rằng thời hạn vay là một tháng và không có lãi. Ông T không có ý kiến phản bác ý kiến của ông S. Như vậy, khoản vay này được xác định là khoản vay có thời hạn và không có lãi, cụ thể khoản vay ngày 10/8/2023 đến hạn vào ngày 11/9/2023; khoản vay ngày 17/8/2023 đến hạn vào ngày 18/9/2023. Căn cứ quy định của Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Ông S xác định từ khi vay đến nay ông T chưa trả cho ông khoản tiền nào. Trước khi khời kiện, ngày 23/02/2024, ông S đã gửi thông báo yêu cầu ông T trả nợ. Bị đơn ông T không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Vì vậy, nay ông S khởi kiện yêu cầu ông T trả số tiền vay còn nợ là 250.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về tiền lãi: Quá trình tố tụng, ông S xác định không yêu cầu ông T trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Đây là ý chí tự nguyện của ông S nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí có giá ngạch được tính trên tổng số tiền phải trả cho ông Trần Văn S theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S đối với ông Nguyễn Văn T.

Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông Trần Văn S số tiền nợ 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Trả lại cho ông Trần Văn S 6.250.000 (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004569 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (03);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - CCTHADS TP. Dĩ An (01);
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 223/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn S kiện Nguyễn Văn T về hợp đồng vay tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger