Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2024/HS-ST

Ngày: 05-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Nguyễn Văn Tư
    2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Cẩm Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 05/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 222/2024/HSST ngày 22/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST – HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ninh Ngọc Đ, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 9/12; Bố: Ninh Ngọc G, sinh năm 1958; Mẹ: Vũ Thị N, sinh năm 1959; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2024 đến ngày 21/10/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Anh Phạm Mạnh C, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1963 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Chỉ Bồ, xã Thuỵ Trường, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình

  3. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1959 (Có mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  1. Anh Lý Minh H, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Ảm, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

  3. Bà Đào Thị M, sinh năm 1959 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  5. Bà Đào Thị T, sinh năm 1964 (Có mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ninh Ngọc Đ, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang thuê trọ tại gia đình bà Đào Thị M, sinh năm 1959 ở thôn S, xã S, thành phố B và đi làm công nhân Công ty TNHH S tại khu Công nghiệp S - N thuộc địa bàn xã S, thành phố B.

Buổi sáng ngày 13/8/2024, Ninh Ngọc Đ đi bộ đến Công ty TNHH S làm việc. Khoảng 20 giờ cùng ngày sau khi làm việc xong, Đ đi bộ đến nhà bảo an thì nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 17B6-359.17 dựng ở đó, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá điện nên đã nảy sinh ý định trộm cắp để sử dụng làm phương tiện đi lại. Chiếc xe mô tô này là của anh Phạm Mạnh C, sinh năm 1997, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (hiện ở TDP M, phường N, thị xã V) là công nhân của công ty Seojin đi làm để tại đó. Lợi dụng lúc không có người để ý, Đ đi đến mở khoá điện nổ máy rồi đi xe về phòng trọ cất giấu. Sau đó, Đ sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi lại.

Khoảng 08 giờ ngày 25/8/2024, Ninh N1 Đoàn điều khiển chiếc xe mô tô Honda Wave biển số 17B6-359.17 đi ăn sáng tại quán ăn ở đường V, thôn S, xã S, thành phố B và để xe trên vỉa hè. Anh Phạm Mạnh C đi làm về phát hiện chiếc xe máy của anh C để tại vỉa hè trước cửa quán nên điện thoại báo cho Công an xã S đến lập biên bản và tạm giữ của Đ 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, biển số 17B6-359.17 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO.

Kết luận định giá tài sản số 213/KL-HĐĐG ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng- đen- bạc, biển số 17B6-359.17, mua mới năm 2018, đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 13/8/2024 là 9.000.000 đồng

Tại bản cáo trạng số 224/CT - VKS ngày 21/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Ninh N1 Đoàn ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Ninh Ngọc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Quá trình bị bắt khẩn cấp, bị cáo đã bị tạm giữ 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, biển số 17B6-359.17 là xe của anh C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO là của bị cáo. Đến nay, chiếc xe đã được trả lại cho anh C và mẹ bị cáo đã bồi thường cho anh C 500.000 đồng tiền xe ôm anh C đi lại trong quá trình bị mất xe, anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên bị cáo không có ý kiến gì. Đối với điện thoại di động VIVO là tài sản của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên bị cáo đề nghị được xin lại.

Bị hại vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai đó.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị N xác định bị cáo Đ đã tác động tới bà để bà bồi thường cho anh C số tiền 500.000 đồng. Bà xác định số tiền này là của cá nhân bà, nay bà không yêu cầu bị cáo Đ phải trả lại bà số tiền trên.

Người làm chứng: Bà Đào Thị T xác định bị cáo Đ có thuê trọ tại phòng trọ nhà bà nhưng nay không còn thuê. Việc bị cáo Đ lấy xe của anh C như thế nào thì bà không biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Ninh Ngọc Đ từ 8 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Đ cho UBND xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Do bị cáo hiện đang làm lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Anh C đã được trả lại chiếc xe và được mẹ bị cáo Đ bồi thường số tiền 500.000 đồng. Đến nay anh C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
    • + Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số Imeil: 864770052402099, số Imei 2: 864770052402081, trong điện thoại lắp 01 thẻ sim và 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu trắng.
  • Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt bị hại: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ và xét thấy việc vắng mặt họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng là có căn cứ.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Ninh Ngọc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 13/8/2024, Ninh N1 Đoàn đi làm việc tại Công ty S1 – N thuộc xã S, thành phố B khi ra về thì nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 17B6-359.17 trị giá 9.000.000 đồng của anh Phạm Mạnh C là công nhân Công ty Seojin để ở gần phòng bảo an, chìa khoá văn cắm ở ổ khoá điện. Đoàn đi đến mở khoá điện nổ máy đi về phòng trọ cất giấu và sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 25/8/2024, Đ đi chiếc xe máy trộm cắp đến ăn sáng tại đường V, thôn S, xã S, thành phố B thì bị anh C phát hiện nên báo cho Công an xã S đến lập biên bản sự việc và thu giữ chiếc xe máy.

[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Ninh Ngọc Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo 01 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 9.000.000 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Ngoài ra, bị cáo còn được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do bị cáo đang là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Anh C đã được trả lại chiếc xe mô tô và được mẹ bị cáo Đ bồi thường số tiền 500.000 đồng. Đến nay anh C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

[11] Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số Imeil: 864770052402099, số Imei 2: 864770052402081, trong điện thoại lắp 01 thẻ sim và 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu trắng là tài sản của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

[12] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

  1. Xử phạt bị cáo Ninh Ngọc Đ 8 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/11/2024).

    Giao bị cáo Đ cho UBND xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số Imeil: 864770052402099, số Imei 2: 864770052402081, trong điện thoại lắp 01 thẻ sim và 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu trắng.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang(1b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4 b);
  • - Lưu HS.VP (1b);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - UBND xã Quang Tiến, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 223/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ninh Ngọc Đ phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger