|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, TP HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
|
|
Bản án số: 223/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 6 - 2025
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tất Thành
-
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Miến
Bà Nguyễn Thị Mai
-
- Thư ký phiên toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải U.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Triệu Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 112/2025/TLST- HNGĐ ngày 02/4/2025 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1997.
Nơi thường trú: Thôn B, xã C (nay là xã L), huyện T, thành phố Hà Nội;
Nơi ở hiện nay: Thôn D, xã C (nay là xã L), huyện T, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
-
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Ngọc S- Luật sư thuộc Văn phòng L và Cộng sự đoàn luật sư tỉnh N; Có mặt tại phiên tòa.
-
- Bị đơn: Chị Phí Thị N, sinh năm 1997.
Nơi thường trú: Thôn B, xã C (nay là xã L), huyện T, thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện nay: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Trung T trình bày:
Anh và chị Phí Thị N kết hôn được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã L), huyện T, thành phố Hà Nội vào ngày 19/10/2020. Sau khi được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương thì chị N về sống cùng anh và gia đình tại thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Đến tháng 7 năm 2023, anh và chị N xin bố, mẹ ra ở riêng. Thời gian đầu, vợ chồng anh chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tháng 5 năm 2024, anh phát hiện chị N có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác thông qua việc anh đọc được tin nhắn zalo trên điện thoại của N. Sau đó, anh có hỏi chị N về việc quan hệ với người đàn ông đó thì chị N không thừa nhận. Vợ chồng anh xảy ra cãi nói nhau. Ngày 27/6/2024, chị N và người đàn ông kia vẫn nhắn tin và gọi điện với nhau. Vào ngày 28/6/2024, anh gọi bố, mẹ chị N lên nhà nhà anh để nói chuyện. Sau khi nghe anh trình bày lại sự việc thì bố chị N có tát chị N một cái ngay ở nhà anh. Chị N bế cháu Nguyễn Trung C ra khỏi nhà anh. Kể từ thời gian đó thì vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi.
Nay anh nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể tồn tại, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Phí Thị N.
-
+ Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/6/2021 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 31/3/2023. Hiện nay, cháu Nguyễn Thùy D đang sống cùng anh và bố, mẹ tại thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Còn cháu Nguyễn Trung C đang sống cùng chị N .
Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thùy D, còn cháu Nguyễn Trung C anh đồng ý để chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về việc chị N có đơn đề nghị Tòa án xác định anh không phải cha đẻ của cháu Nguyễn Trung C, anh không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
-
+ Về tài sản chung và nợ: Vợ chồng anh không có tài sản chung và nợ gì.
-
- Bị đơn chị Phí Thị N trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Trung T là người ở xã L, huyện T được tự do tìm hiểu và tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã L), huyện T, thành phố Hà Nội vào ngày 19/10/2020. Sau khi kết hôn, chị về sống cùng anh T và gia đình tại thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Thời gian đầu, vợ chồng chị sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 7 năm 2023, vợ chồng chị xin ra ở riêng và ăn riêng.
Đầu năm 2024, vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, tính cách trái ngược nhau. Cuối tháng 6 năm 2024, chị và anh T sống ly thân. Chị về sống cùng bố, mẹ đẻ tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng nên anh Nguyễn Trung T xin ly hôn chị hoàn toàn đồng ý.
-
+ Về con chung: Trong thời gian kết hôn với anh Nguyễn Trung T chị và anh có 02 con chung là cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/6/2021 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 31/3/2023. Hiện nay cháu Nguyễn Thùy D sống cùng anh T, còn cháu Nguyễn Trung C sống cùng chị. Bản thân chị không biết cháu Nguyễn Trung C không phải là con chung của chị với anh T nên chị và anh T vẫn làm thủ tục khai sinh cháu C là con đẻ của anh T.
Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án ly hôn, chị có làm đơn đề nghị trưng cầu giám định ADN xác định quan hệ huyết thống giữa anh Nguyễn Trung T với cháu Nguyễn Trung C. Theo chị cháu Nguyễn Trung C là con riêng của chị. Sau ly hôn, chị xin được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trung C.
Cháu Nguyễn Thùy D là con chung của chị và anh T. Cháu D là con gái cần mẹ quan tâm chăm sóc nên chị có nguyện vọng được nuôi cháu. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Trung T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Trung T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn giữ nguyên việc khởi kiện đề nghị được ly hôn với chị Phí Thị N; về con chung: Anh yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Thùy D, về cấp dưỡng nuôi con thì anh không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung anh đều xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn chị N trình bày ý kiến anh T xin ly hôn thì chị đồng ý; về con chung: Chị xin được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu cấp dưỡngg. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Trung T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N đề nghị Tòa án giải quyết theo đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung: Đề nghị Tòa án xem xét về người trực tiếp đang nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thùy D. Đảm bảo về nơi ở tránh sự sáo trộn về môi trường sống của con. Đồng thời duy trì môi trường giáo dục hiện tại của cháu D hiện nay, đảm bảo cho cháu D được chăm sóc nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất về vật chất và tinh thần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Việc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Việc xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật, việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật. Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn.
-
- Về nội dung: Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 88, 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung T và xử cho anh Nguyễn Trung T được ly hôn chị Phí Thị N.
Về con chung:
Chấp nhận yêu cầu của chị Phí Thị N về việc xác định cháu Nguyễn Trung C, sinh ngày 31/3/2023 do chị Phí Thị N sinh ra không có quan hệ huyết thống cha con với anh Nguyễn Trung T. Cháu Nguyễn Trung C là con riêng của chị Phí Thị N.
Giao cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/6/2021 cho Nguyễn Trung T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Trung C cho chị Phí Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Phí Thị N.
Chị Phí Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và công nợ của vợ chồng: Không có.
Về án phí: Anh Nguyễn Trung T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Trung T có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, giải quyết con chung với chị Phí Thị N có nơi cư trú tại tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xác định là quan hệ ly hôn, tranh chấp về nuôi con và thụ lý vụ, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã L), huyện T, thành phố Hà Nội vào ngày 19/10/2020. Việc kết hôn của anh T và chị N tuân theo các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 và đảm bảo thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 12 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 5 năm 2024, anh T và chị N phát sinh mâu thuẫn do anh T phát hiện chị N có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Anh chị không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024. Vì vậy, nếu cứ tiếp tục duy trì tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho hai bên do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Trung T, xử cho anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3]. Về con chung: Theo các tài liệu nguyên đơn giao nộp cho Tòa án, trong thời gian kết hôn anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N có 02 con chung là Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/6/2021 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 31/3/2023. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là chị Phí Thị N có đơn trưng cầu giám định ADN xác định quan hệ huyết thống giữa anh Nguyễn Trung T với cháu Nguyễn Trung C. Tại Phiếu kết quả phân tích ADN của Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 kết luận: Anh Nguyễn Trung T và cháu Nguyễn Trung C không cùng quan hệ huyết thống cha con. Xét đơn đề nghị của chị N, ý kiến của anh T, căn cứ kết luận của Phiếu kết quả phân tích ADN và các các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định cháu Nguyễn Trung C, sinh ngày 31/3/2023 và anh Nguyễn Trung T không có quan hệ huyết thống cha con. Do vậy, cháu Nguyễn Trung C là con riêng của chị Phí Thị N.
Như vậy, anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/6/2021. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh T và chị N đều có đề nghị được nuôi con chung. Xét thấy cháu Nguyễn Thùy D hiện nay đã trên 36 tháng tuổi. Hơn nữa, từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay cháu D vẫn sống ổn định với anh T và được anh T cùng gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo. Cháu Nguyễn Thùy D phát triển bình thường về mọt mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Nguyễn Thùy D cho anh Nguyễn Trung T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Trung T không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị Phí Thị N cho đến khi có yêu cầu mới hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chị Phí Thị N có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[4]. Về tài sản chung và nợ: Anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N đều xác định không có nên không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Thành T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 88, 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử:
-
+ Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N.
-
+ Về con chung: Cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 21/6/2021 là con chung của anh Nguyễn Trung T và chị Phí Thị N. Giao cháu Nguyễn Thùy D cho anh Nguyễn Trung T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Thùy D đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Trung T không yêu cầu nên hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Phí Thị N cho đến khi có yêu cầu mới hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Chị Phí Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Xác định cháu Nguyễn Trung C, sinh ngày 31/3/2023 do chị Phí Thị N sinh ra không có quan hệ huyết thống cha con với anh Nguyễn Trung T. Cháu Nguyễn Trung C là con riêng của chị Phí Thị N. Giao cháu Nguyễn Trung C, sinh ngày 31/3/2023 cho chị Phí Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Trung C đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
-
+ Về tài sản chung và nợ: Không có.
-
+ Về án phí: Anh Nguyễn Trung T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0059134 ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Anh Nguyễn Trung T, chị Phí N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà Nguyễn Tất Thành |
Bản án số 223/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 223/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
