|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:223/2025/DS-PT Ngày: 01 - 4 - 2025 V/v tranh chấp “bồi thường thiệt hại về tài sản” |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thơ;
Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hồng Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “bồi thường thiệt hại về tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 449/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 732/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Kim S, sinh năm 1955; có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1984; vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1 Ông Trần Kim H – sinh năm 1958; vắng mặt
- 3.2 Ông Nguyễn Vĩnh K – sinh năm 1990; vắng mặt
- Người kháng cáo: Nguyên đơn - Trần Kim S.
Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Tg,
Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện G, tỉnh Tg
Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: ấp P, xã Vĩ, huyện G, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Kim S trình bày: vào năm 2000 bà Trần Thị N chuyển nhượng 3.500m² đất vườn cho bà Lê Thị P1, vườn giáp ranh tên Trần Kim H giành mua. Sau đó sang lại 3.500m2 đất vườn cho ông. Ông làm giấy mướn vườn của bà Trần Thị Ngọc thời H1 30 năm (2000 - 2030) bởi vì bà N có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà nước cấp năm 1990. Bà Trần Thị N có giấy khai thác vườn năm 1975 cây dừa bà N trồng năm 1980, cây chanh ông trồng năm 2002, cây cacao ông trồng năm 2005 và năm 2011, cây chuối ông trồng năm 2000 thay đổi cây chuối trồng hàng năm. Ngày 10/5/2022 Ủy ban nhân dân huyện G cưỡng chế và Võ Thị C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H thửa đất 1023 thửa đất này ông không canh tác, ông canh tác thửa đất 131. Từ ngày ông Trần Kim H mua đất vườn của bà Trần Thị Ngọc S1 lại cho ông chưa một cơ quan nào cưỡng chế ông. Ngày 25/5/2022 ông đến phần đất vườn nêu trên thu hoạch dừa trái, cacao, chanh, chuối ... Trưởng công an xã V dùng súng uy hiếp ông không cho ông thu hoa lợi. Dừa trái, cacao, chanh, chuối ...Từ đó đến ngày 10/10/2023 ông không có đến phần vườn nêu trên. Nay phát sinh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác, không đo đạc không có người ký giáp ranh, chuyển nhượng cho Nguyễn Vĩnh K, sinh năm 1990, xâm chiếm phần vườn diện tích 3.181,1m² thửa 131 tờ bản đồ số 9. Địa chính huyện đo đạc năm 2005 cho bà Trần Thị Ngọc N1 2006, Nhà nước đo đạc về lĩnh vực quản lý đất đai không có mặt bà N đoàn đo đạc để em ruột Trần Thị M đứng tên, diện tích 3.304,7m² thửa 131, tờ bản đồ số 9. Nay ông yêu cầu ông Nguyễn Hữu P bồi thường cho ông mất thu hoa lợi tài sản với số tiền là 74.000.000 đồng.
* Tại văn bản lời khai của bị đơn ông Nguyễn Hữu P trình bày: Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Trần Kim S về quyền sử dụng phần đất vườn 3.500m² theo như trong đơn, phần đất vườn nêu trên đã được cưỡng chế theo Quyết định của Tòa án nhân dân (thành lập Đoàn cưỡng chế của Ủy ban nhân dân huyện, lực lượng Công an xã V tham gia bảo đảm an ninh trật tự tại khu vực cưỡng chế phần đất nêu trên); Bản thân tôi công tác tại Công an xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang thực thi nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự trong việc đảm bảo thực hiện cưỡng chế phần đất nêu trên, tôi không có quyền lợi gì liên quan đến phần đất ông Trần Kim S khởi kiện, tôi không có tranh chấp gi liên quan đến phần đất ông S nêu trên. Do bận công việc cá nhân, không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây nên bằng đơn này tôi xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nêu trên, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tôi không đồng ý toàn bộ và giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Kim H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H, nhưng ông H không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông S.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vĩnh K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K, nhưng ông K không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông S.
* Tại phiên Tòa sơ thẩm:
Ông Trần Kim S yêu cầu ông Nguyễn Hữu P bồi thường thiệt hại số tiền 69.406.450 đồng gồm thiệt hại 17 tháng từ ngày 25/5/2022 đến ngày 10/10/2023 mỗi tháng là 4.000.000 đồng thành tiền là 68.000.000 đồng, gồm dừa, chanh, cacao, chuối (65 cây dừa bán trái khô 1.500,000 đồng; 100 gốc cacao 1.500.000 đồng; 50 gốc chanh, chuối không nhớ bụi là 1.000.000 đồng); Bồi thường tiền di dời 5 cây trụ xi măng để làm cầu mỗi cây cầu là 656.450 đồng; đốn 01 cây dừa giá 750.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu P xin vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vĩnh K vắng mặt.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 449/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ vào các Điều 174, 177, 227, 228, 233, 235, 243, 244 Bộ luật tố tụng dân sự
- - Áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2005
- - Áp dụng Điều 2 Luật người cao tuổi
- - Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Kim S về việc yêu cầu ông Nguyễn Hữu P bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền là 69.406.450 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo qui định của pháp luật.
- Ngày 02 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn Trần Kim S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Kim S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, bị đơn ông Nguyễn Hữu P vắng mặt, hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án: tại phiên tòa phúc thẩm ông S thay đổi kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Xét án sơ thẩm đã xét xử đúng quy định pháp luật, do đó yêu cầu hủy án sơ thẩm của ông S là không có căn cứ. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; nghe quan điểm của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Nguyễn Hữu P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Vĩnh K đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông P, H, K.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn ông Trần Kim S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hữu P bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền là 69.406.450 đồng. Án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “bồi thường thiệt hại về tài sản” đúng quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Kim S đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung: Ngày 02 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn Trần Kim S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm ông S thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Kim S.
Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Kim S với những căn cứ sau:
Thiệt hại bị mất do không thu được hoa lợi từ cây trồng trên đất là 17 tháng từ ngày 25/5/2022 đến ngày 10/10/2023 mỗi tháng là 4.000.000 đồng thành tiền là 68.000.000 đồng, gồm dừa, chanh, cacao, chuối (65 cây dừa bán trái khô 1.500,000 đồng; 100 gốc cacao 1.500.000 đồng; 50 gốc chanh, chuối không nhớ bụi là 1.000.000 đồng) là 68.000.000 đồng. Ông S cho rằng thiệt hại này do ông Nguyễn Hữu P không cho ông S thu hoạch hoa lợi trên thửa đất 131, tờ bản đồ số 9, diện tích 3.181,1m² (đo đạc thực tế là 3.044m²) thuộc một phần thửa đất cũ là 1023, tờ bản đồ số 1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00162 QSDĐ ngày 04/10/2004 do ông Trần Kim H đứng tên. Cho thấy phần đất này là của ông Trần Kim H, phần đất này ông S đã bị cưỡng chế giao lại cho ông H quản lý, sử dụng vào năm 2022 cùng các cây trồng trên đất cũng giao cho ông H sở hữu, nên các cây trồng trên đất ông S cho rằng của ông S là không có cơ sở, mà là của ông H. Do đó, ông S cho rằng ông bị mất tiền thu hoa lợi từ cây trồng trên đất là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với cây dừa trên ông S cho rằng ông Hoàng Đ nên yêu cầu bồi thường số tiền 750.000 đồng. Như đã phân tích ở trên cây trồng trên đất là của ông H nên ông H có đốn thì cũng là tài sản của ông H, không phải của ông S.
Đối với 05 cây trụ xi măng để làm cầu thì theo biên bản thẩm định tại chổ ngày 18/7/2024 thì 05 cây trụ xi măng này không bị hư hỏng mà chỉ thay đổi vị trí ban đầu, nên không có thiệt hại xảy ra.
Đối với ông Nguyễn Hữu P là Trưởng Công an xã V được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự khi cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, và ông S không có chứng cứ chứng minh ông P gây thiệt hại cho ông S như đã phân tích ở trên.
Từ những phân tích trên cho thấy ông S không có chứng cứ gì chứng minh ông Nguyễn Hữu P gây thiệt hại cho ông S. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Trần Kim S không được cấp sơ thẩm chấp nhận.
Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp theo qui định của pháp luật và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Trần Kim S kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới ngoài những tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Kim S.
[6] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: ông S được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Kim S.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 449/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ vào các Điều 174, 177, 227, 228, 233, 235, 243, 244 Bộ luật tố tụng dân sự
- Áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2005.
- Áp dụng Điều 2 Luật người cao tuổi.
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Kim S về việc yêu cầu ông Nguyễn Hữu P bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền là 69.406.450 đồng.
Về án phí: ông Trần Kim S được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Ngọc Tuyền |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Thị Thơ - Nguyễn Thanh Nhàn |
TP. CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Ngọc Tuyền |
Bản án số 223/2025/DS-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 223/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
