Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2220/2024/DS-ST

Ngày: 31 – 5 – 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc B – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1931/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2280/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2890/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phương Hữu T, sinh năm 1952.
  2. Địa chỉ: Số 1, Đường D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Văn Q, sinh năm 1990 (Giấy ủy quyền ngày 08/4/2024 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1970, vắng mặt.
    2. Bà Huỳnh Ngọc Á, sinh năm 1973, vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: C đường B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Người làm chứng: Bà Lê Thị B1, sinh năm 1962.
  5. Địa chỉ: 3 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 08/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phương Hữu T trình bày:

Ông T quen biết với vợ chồng ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á khoảng năm 2018 do hai bên có quan hệ mua bán nhà. Ông T mua nhà của vợ chồng bà Á, ông T1 để cho thuê trọ và ông T cũng nhờ vợ chồng bà Á, ông T1 thu tiền trọ hàng tháng giúp ông T nên hai bên thường xuyên liên lạc với nhau. Vợ chồng bà Á, ông T1 có nói với ông T là có nhu cầu làm ăn nên hỏi vay ông T nhiều lần, đều bằng tiền mặt. Tính đến tháng 6/2022, ông T đã cho vợ chồng bà Á, ông T1 vay số tiền là 4.900.000.000 đồng với lãi suất là 2%/tháng và hẹn 2 tháng sau sẽ trả, hàng tháng sẽ trả lãi cho ông T.

Đến cuối tháng 7 gần đến kỳ hạn trả lãi thì vợ chồng bà Á, ông T1 nói kẹt tiền, không thể trả lãi nên bà Á hẹn tháng sau trả luôn đủ gốc lẫn lãi. Đồng thời, tiền thuê nhà của ông T nhờ vợ chồng bà Á, ông T1 thu giúp thì Vợ chồng bà Á cũng mượn luôn và mượn thêm 10.000.000 đồng tiền mặt. Để đảm bảo xác nhận tổng số tiền vay trước đó thì hai bên có lập Hợp đồng vay tiền ngày 28/7/2022 để xác nhận tổng số tiền vợ chồng bà Á, ông T1 vay ông T là 5.021.574.000 đồng (bao gồm nợ gốc lần mượn 4.900.000.000 đồng, mượn thêm 10.000.000 đồng tiền mặt, tiền nhà khoảng hơn 20.000.000 đồng và lãi của tháng 7/2022 khoảng hơn 91.000.000 đồng (con số tương đương vì ông T không nhớ rõ do lúc đó hai bên tính nhẩm cộng lại và thống nhất). Hai bên thống nhất đến ngày 31/8/2022 thì vợ chồng bà Á, ông T1 sẽ thanh toán hết tiền nợ trên và lãi cho ông T.

Đến hẹn trả nợ là ngày 31/8/2022 thì ông T có gọi điện để yêu cầu vợ chồng bà Á, ông T1 trả nợ thì được hẹn và vợ chồng bà Á, ông T1 hứa sẽ trả ngay khi tiền về tài khoản. Nhưng đến hẹn thì ông T lại tiếp tục đòi nợ thì vợ chồng bà Á, ông T1 luôn thất hứa, ông T đến nhà đòi tiền thì vợ chồng bà Á, ông T1 né tránh không tiếp và đến nay đã chặn luôn cuộc gọi của ông T.

Nhận thấy, việc vợ chồng bà Á, ông T1 vay số tiền của ông T tích góp nhiều năm dẫn đến cuộc sống của gia đình ông T rất khó khăn. Đến thời điểm hiện tại, vợ chồng bà Á, ông T1 vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi cho ông T. Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh N phải trả cho ông T tổng số tiền là: 6.458.112.413 đồng. Trong đó nợ gốc là 5.021.574.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 31/01/2024 với lãi suất là 20%/năm, tương đương với 1,67%/tháng là 1.436.538.413 đồng, thanh toán ngay sau khi có bản án có hiệu lực, đồng thời tiếp tục tính lãi cho đến ngày xét xử.

Tại phiên tòa, ông Dương Văn Q là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông T xác định giữa 02 bên có nhiều hợp đồng vay mượn tiền nhưng Hợp đồng vay tiền ngày 28/7/2022 đã chốt lại các khoản tiền vay gốc, lãi trước đó nên ông T chỉ yêu cầu giải quyết đối với Hợp đồng vay tiền ngày 28/7/2022. Ông T yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á trả khoản tiền nợ gốc là 5.021.574.000 đồng và tiền lãi bao gồm: Lãi trên nợ gốc trong hạn, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi, tính từ ngày quá thời hạn trả nợ (ngày 01/9/2022) đến thời điểm xét xử. Trường hợp lãi suất do hai bên thỏa thuận vượt quá mức lãi suất tối đa thì đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh về mức lãi suất tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 là 20%/năm.

Ông T xác định số tiền cho vay là tài sản riêng của ông T, không liên quan đến vợ ông T hay bất kỳ ai khác.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được trình bày của ông T1, bà Á.

Người làm chứng là bà Lê Thị B1 trình bày:

Bà B1 là người địa phương cùng bà Á. Sau nhiều lần tiếp xúc với gia đình ông T, bà Á có kêu là hỏi dùm tiền cho bà mượn. Sau đó ông Phương Hữu T có cho bà Á mượn nhiều lần với số tiền mà bà B1 không rõ. Bà B1 chỉ biết bà Huỳnh Ngọc Á có mượn tiền và nhận tiền của ông Phương Hữu T, có sự chứng kiến của bà B1, mục đích bà Huỳnh Ngọc Á và Nguyễn Thanh T1 mượn tiền ông Phương Hữu T để xây dựng nhà trọ và trang trải cuộc sống. Mọi hợp đồng mượn tiền bà Huỳnh Ngọc Á và ông Nguyễn Thanh T1 đều ký tên và lăn tay. Trong ngày mượn tiền khi ông Phương Hữu T cho bà Huỳnh Ngọc Á và ông Nguyễn Thanh T1 mượn tiền, đều nhận tiền mặt. Những lần mượn tiền ông Phương Hữu T, cả hai vợ chồng ông T1 và bà Á cùng nhận tiền chung, cùng sử dụng chung. Nhưng khi ký tên, bà Á ký không để ông T1 ký tên. Hiện nay ông T1 và bà Á đã bỏ đi đâu bà B1 không rõ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán số tiền vay là 5.021.574.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến thời điểm xét xử theo mức lãi suất là 20%/năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Phương Hữu T khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phương Hữu T vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền là ông Dương Văn Q có mặt; bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á vắng mặt mặc dù đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng; người làm chứng là bà Lê Thị B1 vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2.2] Nguyên đơn ông Phương Hữu T xác định số tiền cho vay là tài sản riêng của ông T, việc vay mượn không liên quan đến ai khác nên không có cơ sở để Tòa án triệu tập thêm người liên quan tham gia tố tụng.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn ông Phương Hữu T yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á trả cho ông T tiền nợ gốc là 5.021.574.000 đồng và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật, tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi bị đơn ông T1 và bà Á thanh toán xong toàn bộ số tiền gốc và lãi. Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn ông T và bị đơn ông T1, bà Á đã xác lập các hợp đồng vay mượn tiền, cụ thể như sau:

  • Giấy mượn tiền ngày 29/3/2019, ông T cho ông T1, bà Á vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, hạn trả 29/12/2019, không thỏa thuận về lãi suất. Ông T1 và bà Á có ký tên và điểm chỉ vào Giấy mượn tiền.
  • Giấy mượn tiền ngày 14/11/2019, ông T cho bà Á vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, từ ngày 14/11/2019 đến ngày 14/5/2020, không thỏa thuận về lãi suất. Bà Huỳnh Ngọc Á có ký tên và điểm chỉ vào Giấy mượn tiền.
  • Hợp đồng cho vay tiền ngày 15/01/2022, ông T xác nhận vay hộ cho ông T1, bà Á vay số tiền 4.306.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 31/8/2022, bằng tiền mặt, mức lãi suất thỏa thuận là 97.000.000 đồng/tháng, sau mỗi tháng không trả được thì số tiền lãi sẽ cộng vào tiền gốc và phát sinh lãi theo cam kết. Bà Huỳnh Ngọc Á có ký tên và điểm chỉ vào cuối Hợp đồng.
  • Hợp đồng cho vay tiền ngày 31/3/2022, ông T cho ông T1, bà Á vay số tiền 4.601.081.200 đồng, thời hạn vay đến ngày 31/8/2022, bằng tiền mặt. Hai bên thỏa thuận nếu đến hết ngày 31/8/2022, bà Á và ông T1 không trả đủ tiền đã vay thì đồng ý chấp nhận mức lãi suất tăng gấp đôi là 4%/tháng. Bà Huỳnh Ngọc Á có ký tên và điểm chỉ vào cuối Hợp đồng.
  • Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022, ông T cho ông T1, bà Á vay số tiền 5.021.574.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 31/8/2022, bằng tiền mặt. Hai bên thỏa thuận nếu đến hết ngày 31/8/2022, bà Á và ông T1 không trả đủ tiền đã vay thì đồng ý chấp nhận mức lãi suất tăng gấp đôi là 4%/tháng. Bà Huỳnh Ngọc Á có ký tên và điểm chỉ vào cuối Hợp đồng.

Ông T xác nhận đã cho bà Á, ông T1 vay nhiều lần, tất cả lần vay đều bằng tiền mặt và Hợp đồng vay sau sẽ chốt luôn gốc và lãi của các hợp đồng trước đó. Do đó, ông T yêu cầu giải quyết đối với việc vay lần cuối cùng là Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022.

Xét Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022 được xác lập giữa các bên trên cơ sở sự tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tại Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022, các bên thỏa thuận như sau:

“...1. Ông/Bà Phương Hữu T đồng ý cho ông Nguyễn Thanh T1 và vợ là bà Huỳnh Ngọc Á vay số tiền là 5.021.574.000 VNĐ (bằng chữ: năm tỷ không trăm hai mươi mốt triệu, năm trăm nảy mươi bốn ngàn đồng).

2. Thời hạn vay đến ngày 31 tháng 8 năm 2022 sẽ trả hết lãi và gốc. Nếu đến hết ngày 31 tháng 8 năm 2022 tôi không hoàn trả đủ số tiền đã vay, tôi cam đoan chấp nhận mức lãi suất tăng gấp đôi là 4% một tháng.

3. Phương thức cho vay: Bằng tiền mặt

5. Kể từ thời điểm Bên B ký vào hợp đồng, Bên B xác nhận đã nhận đủ số tiền do Bên A chuyển giao...”.

Căn cứ kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T thì ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á là vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông T1 và bà Á đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không tới Tòa án để trình bày ý kiến, không phản đối hay cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc chưa nhận tiền vay hay đã trả được bất kỳ khoản tiền vay nào cho ông T. Đã hết thời hạn vay nhưng ông T1 và bà Á không trả tiền vay cho ông T là vi phạm thỏa thuận tại các hợp đồng. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 thì yêu cầu của nguyên đơn ông T buộc ông T1, bà Á trả tiền tổng tiền nợ gốc 5.021.574.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Ông T yêu cầu tính lãi phát sinh đối với Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022 theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022, các bên xác định nếu hết ngày 31/8/2022, ông T1 và bà Á không hoàn trả đủ tiền vay thì chấp nhận mức lãi suất tăng gấp đôi là 4%/tháng (tức lãi suất trong hạn là 2%/tháng), tương ứng 24%/năm. Tuy nhiên tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đề nghị tính lãi theo mức lãi suất là 20%/năm, xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với quy định của pháp luật, có lợi cho bị đơn. Do đó, việc tính tiền lãi phát sinh đối với Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022 được xác định theo quy định tại khoản 5 Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 5 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “ 5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “ 1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

Số tiền lãi cụ thể đối với Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/7/2022, số tiền vay 5.021.574.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 28/7/2022 đến ngày 31/8/2022, được tính như sau:

  • Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả: 5.021.574.000 đồng x 20%/năm x 01 tháng 03 ngày = 91.947.542 đồng.
  • Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả: 91.947.542 đồng x 10%/năm x 01 năm 09 tháng = 16.090.819 đồng.
  • Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả: 5.021.574.000 đồng x 20%/năm x 01 năm 09 tháng = 1.757.541.450 đồng.

[3.3] Như vậy, tổng tiền gốc và lãi ông T1 và bà Á phải trả cho ông T là: 5.021.574.000 đồng + 1.757.541.450 đồng + 91.947.542 đồng + 16.090.819 đồng = 6.887.153.811 đồng.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và đúng quy định của pháp luật.

[5] Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 220, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phương Hữu T:

Buộc ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á trả cho ông Phương Hữu T tổng số tiền là: 6.887.153.811 (sáu tỷ, tám trăm tám mươi bảy triệu, một trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm mười một) đồng, bao gồm: Nợ gốc là 5.021.574.000 (năm tỷ, không trăm hai mươi mốt triệu, năm trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử (ngày 31/5/2024) là: 1.865.579.811 (một tỷ, tám trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi chín nghìn, tám trăm mười một) đồng. Thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên thi hành án tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 31/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 20%/năm.

3. Về án phí:

Ông Nguyễn Thanh T1 và bà Huỳnh Ngọc Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 114.887.154 (một trăm mười bốn triệu, tám trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi bốn) đồng. Ông T1, bà Á chưa nộp án phí. Ông Phương Hữu T không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo:

- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2220/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 2220/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Phương Hữu T và Nguyễn Thanh T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger