|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 222/2024/HS-ST Ngày 31-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Lệ Chi.
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 188/2024/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Đức N1, sinh năm 1990 tại tỉnh Hưng Yên; thường trú: Thôn Y, xã Ngh, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Đức Ng và bà Dương Thị T; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/10/2007 bị Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc số 3774, thời hạn 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành tại Trường Giáo dưỡng số 2; ngày 19/10/2007 bị Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội ra Quyết định Đưa vào trường giáo dưỡng số 2131, thời hạn 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản; ngày 15/01/2008 bị Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 184924, xử phạt 75.000 đồng về tội Trộm cắp tài sản; ngày 31/10/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán người theo Bản án số 480/2012/HSST. Bị cáo chấp hành án tại Trại giam số 6, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2018; ngày 26/10/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPHC phạt tiền 15.000.000 đồng, buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 7.133.000 đồng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Võ Quốc M1, sinh năm 2001; thường trú: Thôn T, xã Th, huyện Th, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Số 51 An Bình, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Đức N1 và Võ Quốc M1 là nhân viên của Công ty TNHH xông hơi Massage Triều Đông tại số 51 An Bình, khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương do ông Đặng Như Ng làm chủ. Do cơ sở vắng khách nên ngày 11/5/2023, ông Ng cho Nam nghỉ việc, N1 muốn về quê nhưng không có tiền nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản bán lấy tiền. Để thực hiện ý định phạm tội, khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/5/2023, N1 đón xe Grab về cơ sở Massage “Triều Đông” và yêu cầu tài xế đứng đợi N1 vào lấy hành lý về quê. Khi đi vào trong nhìn thấy M1 đang nằm ngủ trên ghế sofa, bên cạnh để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro Max, màu xanh dương, dung lượng 128GB. N1 dùng tay lấy trộm chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi lấy ba lô chuẩn bị sẵn từ trước đi ra xe grab yêu cầu tài xế chở đến Bến xe An Sương, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, N1 ghé vào 01 cửa hàng cầm đồ (không rõ địa chỉ) để bán chiếc điện thoại di động iPhone 13 Pro Max, màu xanh dương, dung lượng 128GB với giá 8.500.000 đồng. Sau đó, N1 tiếp tục di chuyển đến Bến xe An Sương đón xe ô tô chở khách về tỉnh Hưng Yên và tiêu xài hết số tiền 8.500.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 156/BBĐG-HĐĐGTS ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, kết luận như sau: 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB trị giá 17.000.000 đồng.
Cáo trạng số 204/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Đức N1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Lê Đức N1 từ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Một điện thoại di động, hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB trị giá 17.000.000 đồng. Ông Võ Quốc M1 yêu cầu Lê Đức N1 bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền 17.000.000 đồng là có căn cứ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Bị hại ông Võ Quốc M1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, trong quá trình điều tra đã cung cấp lời khai đầy đủ. Vì vậy, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt.
[2] Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, kết luận định giá tài sản và những chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/5/2023 tại cơ sở Massage Triều Đông số 51 An Bình, khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị cáo Lê Đức N1 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro Max, màu xanh dương, dung lượng 128GB của bị hại Võ Quốc M1 có trị giá 17.000.000 đồng (theo kết luận định giá tài sản số 156/BBĐG-HĐĐGTS ngày 18/9/2023). Hành vi nêu trên của bị cáo N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số 204/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cân xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt tù, đã chấp hành án xong nhưng không xem đó là bài học để trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội mới thể hiện sự coi thường pháp luật. Thậm chí, sau khi phạm tội bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPHC ngày 26/10/2023 phạt tiền 15.000.000 đồng, buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 7.133.000 đồng (bị cáo chưa chấp hành), do hành vi vi phạm hành chính này của bị cáo thực hiện sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này nên không tính là tiền sự của bị cáo.
[7] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét bị cáo xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Giá trị của một điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro Max, màu xanh dương, dung lượng 128GB là 17.000.000 đồng, không thu hồi được. Ông M1 yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 17.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo N1 đồng ý bồi thường số tiền 17.000.000 đồng theo yêu cầu của ông M1. Xét thấy sự tự nguyện bồi thường của bị cáo N1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và trách nhiệm dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Đức N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Đức N1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự:
- Buộc bị cáo Lê Đức N1 phải trả cho ông Võ Quốc M1 số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Đức N1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 850.000đ (tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |
Bản án số 222/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 222/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức N1 phạm tội trộm cắp tài sản
