Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Bế Thiện và ông Lê Đình Hiệp

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 217/2024/TLST-HS, ngày 09/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HS ngày 16/8/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Quốc Đ, sinh ngày 23/01/1985 tại tỉnh Thái Nguyên;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Ngô Văn Đ1, con bà: Phan Thị Q; Có vợ: Trần Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 06/3/2024 bị cáo bị Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành nộp phạt ngày 07/3/2024.

Nhân thân: Ngày 04/5/2020 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 05/8/2020 bị cáo bị Công an xã S, thành phố T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Ngày 28/3/2020 Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T giao bị cáo cho Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Thái Nguyên quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do nghiện ma tuý. Ngày 30/3/2020 Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T quyết định đưa người ra khỏi Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Thái Nguyên đối với Ngô Quốc Đ.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

- Người chứng kiến:

(Có mặt tại phiên tòa).

Ông Đồng Văn H, sinh năm 1961.

Trú tại: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ ngày 15/5/2024, tổ công tác Công an phường Q, T bắt quả tang Ngô Quốc Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra Đại tự giác lấy 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác (Đ khai là ma tuý Heroine) mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ và niêm phong, thu giữ vật chứng ký hiệu A1 theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành cân xác định khối lượng: Cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 có khối lượng 0,203 gam, lấy toàn bộ chất tinh thể màu trắng trên gửi giám định ký hiệu A2.

Tại bản Kết luận giám định số 620/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma uý và tiền chất, khối lượng là 0,203 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Quốc Đ khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, Đ đi xe bus từ nhà đến khu vực phường T, thành phố T mục đích để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, Đ gặp và mua 01 gói ma tuý loại Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng với giá 100.000 đồng của người đàn ông không quen biết. Mua xong, Đ cất gói ma tuý vào trong túi quần bên trái trước đang mặc rồi đi về tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Q, T bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Quốc Đ khai nhận rõ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Bản cáo trạng số 225/CT-VKSTPTN, ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Ngô Quốc Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Quốc Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Quốc Đại t 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên đã tàng trữ ma tuý trong người để sử dụng cho bản thân không bán lại cho ai, không nhằm mục đích gì khác. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng ma túy, kết luận giám định, phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Hồi 13 giờ ngày 15/5/2024, tại khu vực tổ H, phường Q, thành phố T, Ngô Quốc Đ đang có hành vi tàng trữ 0,203 gam chất ma tuý, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Q, T bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, H1 ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Toà án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như tính chất, mức độ của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy cần có một mức án tương xứng với tội trạng mà bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xác minh lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, bị cáo mua ma tuý để bản thân sử dụng, không có mục đích bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:

Đối với vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, vỏ bao mẫu ban đầu được niêm phong trong các phong bì ký hiệu A2, A3, xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[7] Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Quốc Đ với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

[8] Về nguồn gốc số ma túy Heroine: Ngô Quốc Đ khai mua của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch của người bán ma tuý cho Đ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Các Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt Ngô Quốc Đ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2024.
  3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Quốc Đ với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 0,194 gam ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định, mặt sau bì có 02 dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh T và chữ ký của Trương Đăng T1Ma Nhật A.
    • - 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa vỏ bao mẫu ban đầu, mặt sau bì có 03 dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và chữ ký của Phó Mạnh Tùng, Quách Minh H2, Quản Mỹ H3, Ngô Quốc Đ, Đồng Văn H, Bùi Tuấn A1.

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/8/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Ngô Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, có mặt bị cáo (Ngô Quốc Đ), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - Cơ quan điều tra CA thành phố Thái Nguyên;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục T.H.A DS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 222/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Quốc Đ tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger