TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 222/2024/HS-PT Ngày: 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.
Các thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Tuấn Anh;
2. Ông Nguyễn Chí Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Văn T cùng đồng phạm. Do có kháng cáo của các các các các các các các các các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
- Các bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm: 1983; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Trần Văn C, sinh năm: 1953; Con bà: Lê Thị D, sinh năm: 1957; Vợ: Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm: 1981; Gia đình các bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Gia đình các bị cáo có 03 anh em, các bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Khởi tố áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Trần Văn T2, sinh năm: 1989; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Trần Văn C, sinh năm: 1953; Con bà: Lê Thị D, sinh năm: 1957; Vợ: Phạm Thị Trúc L, sinh năm: 1991; Gia đình các bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Gia đình các bị cáo có 03 anh em, các bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Khởi tố áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
3. Họ và tên: Lê Hoàng T3, sinh năm: 2000; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Lê Văn P, (chết); Con bà: Võ Thị L1, sinh năm: 1968; Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị can có 04 anh em, bị can là con út trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Khởi tố áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 09/2021, giữa gia đình ông Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn T4 (con ông D1) và bà Lê Thị D xảy ra mâu thuẫn cự cãi trong việc tranh chấp ranh đất. Đến khoảng 14 giờ ngày 14/12/2021, Trần Văn T2 (con bà D) và Lê Hoàng T3 trên đường đi uống rượu về ngang nhà ông D1 tại ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì T2 nhớ lại sự việc mâu thuẫn nên T2 kêu T3 dừng xe lại nhà của D1 để nói chuyện thì T3 đồng ý.
Khi đến nhà ông D1, T2 và T3 đi vào trong sân nhà cự cãi với Nguyễn Văn T4 vì T2 cho rằng T4 có xúc phạm bà D trong lúc tranh chấp ranh đất; trong lúc cự cãi thì Nguyễn Thị L2 (chị của T4) sợ có sự việc đánh nhau nên kéo T4 vào nhà. Lúc này, T2 thấy Trần Triều P1 (con của T2, sinh ngày 14/11/2008) đi xe mô tô ngang nên T2 kêu P1 về nhà lấy dao tự chế đến để đánh nhau thì P1 đồng ý; lúc này một người tên D (chưa xác định được họ và địa chỉ cụ thể) cũng đến tham gia đánh nhau cùng T2, T3. Khoảng 10 phút sau, P1 về nhà lấy 05 dao tự chế bằng kim loại để vào bao nilong màu trắng rồi quay lại nhà của T4; P1 đem bao hung khí vào trong sân nhà T4 nên T2, T3, D và P1 mỗi người lấy một dao tự chế xông vào tới thềm cửa nhà cự cãi, đe dọa “chém” đối với những người trong nhà của T4 (lúc này trong nhà ngoài T4, L2 thì còn có Phùng Thị Duyên E đang ẩm con nhỏ khoảng 06 tháng tuổi cùng 02 người con nhỏ trong gia đình), T2 lấy dao tự chế của mình đang cầm và dao tự chế của T3 ném (phang) vào nhà nơi những người trong nhà T4 đang đứng làm rách tấm màng, dao văng vào ngang mặt của Duyên E nhưng không trúng ai, sau khi ném dao cả nhóm tiếp tục hâm dọa, xông tới thềm nhà nên D2 Em thấy nhóm của T2 đã say rượu, thái độ hung hăn sẽ xông vào nhà lấy lại dao để gây thương tích nên Duyên E lấy dao ném ra trả cho T2 và nói báo Công an nhưng nhóm T2 không rời đi; lúc này ông Lê Văn S (chồng chị L2) và ông Nguyễn Văn D1 đang ngoài ruộng nghe tin trong nhà có đánh nhau nên chạy vào xem sự việc, khi S vào tới thì thấy cả nhóm T3 đang cầm dao chửi mắng, hâm dọa đòi “chém” nên S nói báo công an thì nhóm T3 nói có Công an đến cũng chém. Lúc này, cả nhóm T2, T3, D, P1 xông tới cửa thềm nhà, do sợ bản thân và gia đình bị gây thương tích, nên T4 lấy 01 cây kim loại (loại ống tiếp sắt) dài khoảng 01 mét đang để cặp hiên nhà rồi đứng chắn ngang cửa thềm nhà nhằm ngăn chặn không cho nhóm của T2 xông vào nhà.
Lúc này T3 thấy T4 cầm cây đứng chắn ngang cửa nên T3 cầm dao chém về phía T4 thì T4 cầm thanh kim loại quơ đỡ lại, T2, P1, D cũng cầm dao chém về phía T4 nên T4 cầm thanh kim loại liên tục quơ đỡ lại, khi cả hai bên đánh nhau qua tới cửa sau trại cưa (cách thềm cửa nhà khoảng 06m); do thấy T4 bị chém nên chị L2 đi ra can ngăn lại thì bị nhóm của T2 (chưa xác định cụ thể là ai) chém trúng tay phải gây thương tích làm chị L2 ngã bất tỉnh tại vị trí đang đánh nhau; lúc này, T3 tiếp tục dùng dao chém về phía T4 nên T4 dùng thanh kim loại đánh rớt dao của T3, T3 khom xuống lấy dao để chém tiếp thì bị T4 dùng thanh kim loại đánh trúng vùng đầu 01 cái, T3 tiếp tục nhặt thanh gỗ dưới đất để đánh T4 nhưng bị T4 đánh T5 cánh tay nhưng không gây thương tích thì Thiện lui lại, T2 cầm dao tiếp tục chém về phía T4 trúng vào vùng môi và cánh tay trái làm rách da gây thương tích, do thấy T4 bị chém nên S lấy một khúc gỗ tại trại cưa định vào ngăn nhưng thấy T2 bị vấp ngã làm rớt dao nên S ném bỏ khúc gỗ ôm câu vật T2 lại thì bị T2 dùng tay bóp vùng cổ gây trầy xướt. Lúc này, anh Nguyễn Quốc Đ (tên thường gọi là T6) chạy đến can ngăn nên S buông Thống ra, Thống lúc này cũng bị thương tích vùng đầu chảy máu nên ra lộ đi băng bó vết thương cùng T3 thì sự việc đánh nhau kết thúc, Duyên E băng bó vết thương cho T4 trong trại cưa, chị L2 được S và Đ đưa vào vào nhà.
Cùng lúc này, Trần Văn T (anh của T2) được D thông báo Thống đánh nhau tại nhà T4 (cách khoảng 200m) nên T liền đi lại nhà T4 rồi xảy cự cãi với ông D1, T lấy điện thoại ném ông D1 nhưng không trúng. T tiếp tục nhặt được một cái dao tại hiện trường cầm trên tay rồi cự cãi với T4, trong lúc cự cãi T cầm dao xông vào trại cưa chém trúng vào vùng cánh tay phải của T4 gây thương tích làm dao của T văng rời lưỡi dao ra khỏi cán dao, T4 cầm thanh kim loại bằng tay trái đánh lại T trúng vùng đầu một cái thì bà Nguyễn Thị M đang chứng kiến la lên có Công an đến nên T bỏ chạy ném cán dao lại hiện trường. Vụ việc lúc này được Công an xã P đến lập biên bản vụ việc và hồ sơ sau đó được chuyển đến Công an huyện C giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ gồm:
- + 01 dao tự chế dài 85cm, lưỡi rộng 5cm, lưỡi dài 35cm, cán bằng ống sắt 27 dài 50cm, nặng 500gram.
- + 01 dao tự chế dài 65cm, lưỡi dài 50cm, rộng 8cm, cán cây dài 15cm, nặng 700gram.
- + 01 cán dao gỗ tròn màu đen có 03 viền kim loại màu vàng, chiều dài 18,8cm, đường kính 3cm, trọng lượng 100gram.
- + 01 cái dao tự chế bằng kim loại màu trắng.
- + 01 điện thoại di động màu đen hiệu Samsung galaxy 21s.
- - Riêng đối với lưỡi dao T dùng gây thương tích cho T4, thanh kim loại của T4, khúc gỗ của S sau khi xảy ra vụ việc Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không tìm được.
- Ngày 15/9/2022, Trung tâm giám định pháp y về thương tích tỉnh Đ đã giám định và kết luận thương tích số 296/TgT đối với Nguyễn Văn T4 như sau:
- + Sẹo vết thương phần mềm môi trên trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 03%.
- + Sẹo vết thương phần mền môi dưới trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 03%.
- + Sẹo vết thương phần mềm mu kẻ bàn ngón II, III tay trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 01%.
- + Sẹo mổ + Sẹo vết thương phần mền cẳng đến mu bàn tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%.
- + Sẹo vết thương phần mềm bả vai phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%.
- + Gãy 02 răng 1.1; 2.1 hàm trên đã được phục hồi răng giả. Mỗi răng 02%.
- + Vết thương cẳng – mu bàn tay phải gây: Đứt bán phần thần kinh quay đã được phẫu thuật nối thần kinh, tổn thương 26%. Đứt bán phần thần kinh trụ đã phẫu thuật khâu nói thần kinh, tổn thương 21%.
- + Tổng tỷ lệ tổn thương gây nên là 50% tại thời điểm giám định (theo nguyên tắc cộng lùi).
- + Các tổn thương do vật sắc bén gây nên, chiều hướng vết thương trực tiếp từ trên xuống dưới.
- Ngoài ra, ngày 20/11/2023, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đ ban hành văn bản xác định tổng thương tích từng phần đối với Nguyễn Văn T4 như sau:
- + Sẹo vết thương phần mềm môi trên trái; Sẹo vết thương phần mền môi dưới trái; Sẹo vết thương phần mềm mu kẻ bàn ngón II, III tay trái; Gãy 02 răng 1.1; 2.1 hàm trên đã được phục hồi răng giả. Tổng tỷ lệ thương tật các thương tích trên là 11%.
- + Sẹo mổ + Sẹo vết thương phần mền cẳng đến mu bàn tay phải; Sẹo vết thương phần mềm bả vai phải; Vết thương cẳng – mu bàn tay phải gây: Đứt bán phần thần kinh quay đã được phẫu thuật nối thần kinh. Đứt bán phần thần kinh trụ đã phẫu thuật khâu nói thần kinh. Tổng tỷ lệ thương tật các thương tích trên là 44%.
- Ngày 30/11/2022, Trung tâm giám định pháp y về thương tích tỉnh Đ đã giám định và kết luận thương tích số 15/TgT đối với Trần Văn T:
- + Sẹo vết thương phần mền vùng chẩm trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.
- + Sẹo vết thương phần mền do vật tày gây nên.
- + Chiều hướng tác động từ trên xuống dưới.
- Ngày 11/10/2023, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đ đã giám định và kết luận thương tích số 394/KLTTCT – TTPYĐT đối với Trần Văn T2:
- + Sẹo vết thương phần mền vùng đỉnh phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%.
- + Sẹo vết thương phần mền phía trước tai trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 03%.
- + Tổng tỷ lệ tổn thương là 05% (theo nguyên tắc cộng lùi). Các tổn thương do vật tày gây ra.
- Ngày 11/10/2023, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đ đã giám định và kết luận thương tích số 393/KLTTCT – TTPYĐT đối với Lê Hoàng T3:
- + Sẹo vết thương phần mền vùng trán trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 03%.
- + Nứt xương sọ vùng trán trái can liền tốt. Tỷ lệ tổn thương 09%.
- + Vết biến đổi sắc tố da thắt lưng trái. Tỷ lệ tổn thương 01%.
- + Cánh tay trái không tổn thương.
- + Tổng tỷ lệ thương tật là 13% theo nguyên tắc cộng lùi. Các tổn thương do vật tày gây ra.
- Ngày 09/11/2023, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đ đã giám định và kết luận thương tích số 439/KLTTCT – TTPYĐT đối với Nguyễn Thị L2:
- + Sẹo vết thương phần mềm mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 01%.
- + Tổng tỷ lệ thương tật là 01%. Tổn thương do vật sắt gây ra.
Ngày 29/8/2023, Trần Văn T, Trần Văn T2 và Lê Hoàng T3 đã thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự cho Trần Văn T7 số tiền 117.202.000 đồng bao gồm: chi phí điều trị thương tích là 8.002.767 đồng; chi phí người nuôi bệnh là 1.400.000 đồng, tiền công lao động 90 ngày bị mất là 72.000.000đồng, tiền thiệt hại bộ lư gỗ là 6.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 29.800.000 đồng. Đến ngày 25/10/2023, T, T2, T3 đã giao tiền xong cho T7, không có yêu cầu gì khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã quyết định:
Tuyên bố các các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt các bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 54, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt các bị cáo Trần Văn T2 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Xử phạt các bị cáo Lê Hoàng T3 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo Lê Hoàng T3 kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc hình phạt khác nhẹ hơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo có cung cấp thêm xác nhận nhân thân tốt, đơn xin được hưởng án treo, bị hại có đơn xin bãi nại cho các bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.
Các bị cáo không phát biểu tranh luận chỉ thừa nhận hành vi phạm tội và chỉ xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 14 giờ ngày 14/12/2021, bị cáo Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 cùng Trần Triều P1 và một người tên D cùng nhau dùng dao tự chế chém Nguyễn Văn T4; trong đó, T2 chém trúng vùng môi, cánh tay trái của T4 gây thương tích 11% thì sự việc được can ngăn; sau đó khoảng 05 phút thì Trần Văn T nghe sự việc nên đến gặp T4 tiếp tục xảy ra cự cãi nên T dùng dao chém trúng vùng cánh tay trái của T4 gây thương tích 44%.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Các bị cáo biết rõ việc dùng hung khí nguy hiểm là dao chém người khác sẽ gây thương tích và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện chứng tỏ lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự; các bị cáo Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo có cung cấp thêm xác nhận nhân thân tốt, đơn xin được hưởng án treo, bị hại có đơn xin bãi nại cho các bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là dưới khung và thấp nhất của khung liền kề. đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 giữ nguyên phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3. Giữ nguyên phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.
2. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T3 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T2, Lê Hoàng T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 222/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 222/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
