|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 222/2024/DS-PT Ngày: 23-4-2024 V/v Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Ngọc Huynh
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 291/2022/TLPT-DS ngày 21 tháng 7 năm 2022 về việc: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2021/DS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo, kháng nghị;
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 579/2024/QĐPT-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tào Lài L, sinh năm 1945 (chết 24-10-2020).
Địa chỉ: số F ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
- Bà Tào Thị Thu H, sinh năm 1967 (vắng mặt).
- Bà Tào Thị Hồng Y, sinh năm 1969 (có mặt).
- Bà Tào Yến P, sinh năm 1972 (vắng mặt).
- Ông Tào Thanh V, sinh năm 1977, Địa chỉ: số F ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Ông Tào Phú Q, sinh năm 1979. Địa chỉ: số B ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt)
- Bà Tào Thị Yến H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
- Bà Hứa Thị Thu L1, sinh năm 1947. Địa chỉ: số F, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: Số B P, phường E, quận F, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà P, ông V, ông Q, bà H1: bà Hứa Thị Thu L1 (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Tuấn H2, luật sư công tác viên trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ: Số A, đường H, khóm F, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lâm Thị Ú, sinh năm 1956. Địa chỉ: Nhà số D ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Triệu Du N, là Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tào Thị T (Tot Thi T1), sinh năm 1937. Địa chỉ: F Devereaux Ave P, USA.
- Ông Tào N1 (R), sinh năm 1957. Địa chỉ: B Scotia Cres Keysborough V, Australia.
- Bà Son Di T2 (Di Thi S), sinh năm 1969. Địa chỉ: A L ST, Lynn, MA 01905 – 2811, USA.
- Ông Son Ri T3 (Rithy S1), sinh năm 1978. Địa chỉ: A Chandler way D, L, GA C, USA.
- Bà Tào Thị Hồng Y, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Lý P2, sinh năm 1945.
- Bà Trà Thị P3, sinh năm 1958
- Ông Châu Quang P4, sinh năm 1973
- Bà Châu Tiết P5, sinh năm 1976
- Ông Châu Tuấn A, sinh năm 1978
- Ông Châu Hoàng Â, sinh năm 1982
- Bà Châu Mỹ N2, sinh năm 1985
- Ông Châu Thắng L2, sinh năm 1986 (chết năm 2020).
- Ông Châu Sơn Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng
- Bà Trần Thị L3, sinh năm 1954 .
- Ông Châu Văn Q1, sinh năm 1973.
- Bà Châu Thị Hoàng M, sinh năm 1978.
- Ông Châu Thanh T4, sinh năm 1984.
- Bà Châu Mỹ L4, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Châu Quang T5 (Châu Q), sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Sơn Ngọc B. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Tào Thị T: Bà Hứa Thị Thu L1, sinh năm 1947. Theo văn bản ủy quyền ngày 15-11-2019
Người đại diện theo ủy quyền của ông Son Ri T3 và Son Di T2: Bà Hứa Thị Thu L1 (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi, và lợi ích hợp pháp của bà Y: Luật sư bà Sơn Thị P1, Luật sư công tác viên trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Cùng địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Châu Thắng L2: Bà Danh Thị K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Cùng địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B1: Bà Tào Thị Hồng Y, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người kháng cáo: người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Tào Lài L là bà Hứa Thị Thu L1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tào Thị Hồng Y và có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Tào Lài L và người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Tào Lài L trình bày:
Cụ Kim S2 (chết năm 1976) và cụ Tào Thị S3 (chết năm 1978) là ông bà nội của ông Tào Lài L. Cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3 chung sống với nhau có 02 người con gồm:
- Một là ông Tào Lài S4 (chết năm 1966), ông Tào Lài S4 có 04 người con gồm: Tào Thị T; Tào Lài L; Tào Kim Đ1 (chết) có 02 con là: Son D, Son R và T.
- Hai là bà Kim Thị K1 (chết năm 2016), bà K1 có 06 người con gồm: L; Ông Châu Hoàng M1 (chết) có 03 người con gồm (Châu Quang P4, Châu Tiết P5, Châu Tuấn A); Ông Châu Quang N3 (chết), có 03 người con gồm (Châu Văn Q1, Châu Thị Hoàng M, Châu T) ông Châu Quang M2 (chết), có 04 người con gồm (Châu Hoàng Â, Châu M, Châu T, C); Châu Mỹ L4; Châu Quang T5.
Cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3 lúc còn sống có tạo lập được 01 căn nhà ngói, căn nhà ngói xây dựng trên diện tích đất 1.145m² nằm trong thửa đất số 503, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng,
Ông Châu Quang M2 (con bà Kim Thị K1) và bà Lâm Thị Ú về chung sống trong căn nhà của cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3, hiện nay bà Lâm Thị Ú đang quản lý sử dụng căn nhà và toàn bộ diện tích đất 1.145m².
Khi cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3 chết thì không để lại di chúc đối với căn nhà và diện tích đất nêu trên cho bất kỳ người con nào của hai cụ. Hiện nay, bà Lâm Thị Ú đang quản lý, sử dụng đồng thời không cho con cháu được sử dụng phần đất do ông, bà nội để lại nên xảy ra tranh chấp
Vụ việc tranh chấp di sản thừa kế được ban ấp Bưng Tróp hòa giải không thành ngày 19/6/2010, sau đó được Ủy ban nhân dân xã A tiếp tục hòa giải không thành ngày 12/8/2010 nên chuyển vụ việc tranh chấp đến Ủy ban nhân dân huyện C.
Đến ngày 20/12/2010 Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 41 giải quyết tranh chấp, không đồng ý với quyết định số 41 nên ông Tào Lài L khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C.
Đến ngày 29/01/2011 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành quyết định số 127 thu hồi quyết định số 41, quyết định số 127 được giao cho ông vào ngày 08/02/2011 và hướng dẫn ông khởi kiện đến Tòa án.
Ngày 18/01/2011 Phòng Tài nguyên huyện C giao cho ông toàn bộ giấy tờ của vụ kiện tranh chấp.
Ngày 04/3/2011 ông Tào Lài L khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, đến ngày 29/9/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định số 12 đình chỉ giải quyết vụ án với lý do ông chưa cung cấp được đầy đủ địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài.
Sau khi có quyết định đình chỉ của Tòa án, bà Lâm Thị Ú đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đồng ý việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ú nên ông khiếu nại, đến ngày 21/6/2011 Ủy ban nhân dân huyện C ban hành quyết định số 1205/QĐ-UBND thu hồi quyết định số 717. Đến ngày 21/4/2017 Ủy ban nhân dân huyện C ban hành quyết định số 35 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 455578 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Lâm Thị Ú ngày 15/01/2016.
Về giá trị kỷ phần thừa kế của ông tạm tính là 30.000.000 đồng, còn giá trị kỷ phần thừa kế bao nhiêu thì thực hiện theo kết quả thẩm định, định giá của Tòa án.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3 phần đất có diện tích đất 1.145m², tại thửa 503, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo hướng cho ông Tào Lài L và các anh chị em của ông được hưởng phần di sản thừa kế mà cha của ông là ông Tào Lài S4 được hưởng nếu còn sống. Cụ thể chia cho các anh em của ông là: Tào Thị T, Tào Lài L, Tào Kim Đ1 (chết, nên các con của bà Đ1 là S1 Di Thi và Son R được hưởng) và ông Tào N1. Ông Tào Lài L yêu cầu được nhận hiện vật là đất. Ông Tào Lài L chết vào ngày 24-10-2020. Nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông L xác định không còn căn nhà của cụ S2 và cụ S3, nên chỉ yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế là 1.094,7m², vì đối với căn nhà trước đây do cụ S3 xây cất đã hư hỏng và gia đình bà Ú đã tháo dỡ xây dựng lại năm 2016 nên nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế đối với căn nhà.
*Bị đơn bà Lâm Thị Ú trình bày: Nguồn gốc phần đất và nhà tranh chấp trước đây là của ông Kim S2 và bà Tào Thị S3 tạo lập. Sau đó ông Kim S2 chết nên bà Tào Thị S3 mới hiến cho chùa B3 lúc này ông Danh H3 là trụ trì, ông Thạch Kha M3 là ban quản trị chùa nhận. Đến năm 1978 bà S3 chết, khi vừa hỏa táng xong về thì Đại đức Ho mới kêu con cháu về đầy đủ để công bố phần đất này bà S3 đã hiến cho chùa nhưng chùa không lấy, nay bà S3 mất rồi thì con cháu ai đứng ra thờ phượng bà S3 thì giao lại cho người đó. Trong lúc đó không ai đứng ra nhận, bởi gì quá hoang vắng và không có quyền lợi, nên tôi thấy vậy mới nhận, lúc đó có nhiều người biết và làm chứng gồm bà Kim Thị K1 (Mẹ), ông Tào Phước S5 (ông C), ông Thạch Kha M3 (ban quản trị chùa). Trong sổ bộ hồ sơ gốc chồng tôi tên Châu Quang H4 (Mộc) đứng tên. Phần đất này gia đình của tôi đã ở trên 40 năm không ai thưa kiện tranh chấp, khi Nhà nước mở lộ năm 2010 giải phóng mặt bằng thì mới tranh chấp. Khi Nhà nước giải phóng mặt bằng tôi là người nhận tiền đền bù, nên tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Việc bà Tào Thị Hồng Y là con của ông L ở trên đất của vợ chồng tôi là năm 1999 xin ở nhờ, đến năm 2005 cất nhà lại thì gia đình của tôi ngăn cản không cho nên vợ chồng bà Y có làm tờ thỏa thuận lập ngày 24-5-2005 xin ở tiếp đến năm 2015 thì bà đồng ý.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bên nguyên đơn là bà Tào Thị Hồng Y đồng thời cũng là người đại diện theo ủy quyền của ông Sơn Ngọc B trình bày: Tôi là con của ông Tào Lài L, tôi thống nhất với lời trình bày như đã nêu trên của nguyên đơn. Tôi thừa nhận tờ thỏa thuận lập ngày 24-5-2005 là chữ viết của chồng tôi, nhưng tôi không có ký tên và nội dung thỏa thuận tôi cũng không biết, đến năm 2010 khi xảy ra tranh chấp thì mới biết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bên bị đơn ông Lý P2 trình bày: Tôi là con của bà Kim Thị K1, bà K1 có có 02 đời chồng và 07 người con gồm:
- - Tôi là Lý P2,
- - Ông Châu Hoàng M1 (chết), ông M1 có 03 người con gồm: Châu Quang P4 (con vợ lớn), Châu Tiết P5, Châu Tuấn A.
- - Ông Châu Quang N3 (chết), ông N3 có 03 người con gồm: Châu Văn Q1, Châu Thị Hoàng M, Châu T.
- - Ông Châu Quang M2 (chết), có 04 người con gồm: Châu Hoàng Â, Châu M, Châu T, C.
- - Bà Châu Mỹ L4.
- - Ông Châu Quang T5.
- - Ông Châu Quang L5 (đã chết 1986 không có vợ con).
Nguồn gốc phần đất tranh chấp và căn nhà gắn liền với đất có nguồn gốc là của ông bà ngoại là Tào Thị S3 và ông Kim S2 xây dựng được một căn nhà ngói trên phần đất tranh chấp. Về nguồn gốc diễn biến căn nhà và đất thì ông bà ngoại tôi có hiến cho chùa hay không thì tôi không biết. Tôi đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp tôi được chia thừa kế của ông bà thì tôi xin nhường kỷ phần của tôi lại cho phía gia đình bà Lâm Thị Ú.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bên bị đơn ông Châu Hoàng Â, bà Châu Mỹ N2, ông Châu Thắng L2: thống nhất với ý kiến của bị đơn bà Lâm Thị Ú.
Ông Châu Sơn Đ trình bày bổ sung: Năm 2005 ông Sơn Ngọc B2 và vợ là bà Tào Thị Hồng Y có hỏi mượn một phần đất để cất nhà ở và có làm tờ cam kết lập ngày 24/5/2005.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Mỹ L4 trình bày: Nguồn gốc nhà là của ông Kim S2 và bà Tào Thị S3, ông Lý P2 là con riêng của bà Kim Thị K1 nhưng cha tôi là chồng sau bà K1 tên Châu Hà S6 (chết năm 1981), khi bà S3 còn sống ông Lý Phước s chung nhà và có hộ khẩu chung với bà S3. Do ông P2 đối xử không tốt với vợ con, nên bà S3 mới buồn đã hiến phần nhà đất cho chùa. Trước ngày bà ngoại chết đã chia phần đất cho ông Tào Lài S7 (cha Tào Lài L) phần đất riêng rồi, diện tích hơn 1000m² là tương đương phần đất tranh chấp, vị trí cặp bên phần đất tranh chấp (phần đất bà S3 chia hai bên nội phân nửa, bên ngoại phân nửa). Phần đất của Tào Lài L đã nhận và bán cho ông Danh Bửu S8 và sau đó ông S8 bán lại cho ông N4 đang ở. Đối với phần đất tranh là do bà ngoại tôi là bà S3 đã hiến cho chùa, khi còn nhỏ tôi ở chung bà S3 khi lập gia đình và bà ngoại chết thì đất hiến cho chùa, sau đó chùa có kêu tôi cho lại để thờ cúng ông bà nhưng tôi không nhận vì tôi có chồng về huyện K sinh sống, lúc này ông S9 cả có kêu những người trong gia đình muốn thờ cúng ông bà lại nhận nên tôi mới kêu anh tôi là ông Châu Quang M2 (chồng bà Ú) nhận thờ phượng ở cho đến nay. Nên tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu trường hợp tôi được chia kỷ phần thừa kế thì tôi giao lại cho gia đình bà Ú.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Châu Quang T5 trình bày: nguồn gốc căn nhà và đất tôi thống nhất lời trình bày của bà Ú. Nay tôi không đồng ý yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn, vì phía gia đình ông Tào Lài L đã được bà ngoại chia xong. Khi gia đình bà Y lại xây dựng nhà thì tôi không đồng ý, nhưng do ông Tào Phước S5 là em của bà S3 nói bà Y mới lập gia đình không có chỗ ở nên cho ở tạm, năm 2005 có sửa chữa lại thì tôi không đồng ý thì phía gia đình bà Y có làm cam kết sau đó ở cho đến nay.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có ý kiến.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2021/DS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Áp dụng khoản 5 và khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, các Điều 227, 228, 476, 477, 271, 273, 479, khoản 1 Điều 147, 153, 157, 158, 165 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 100, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tào Lài L và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn về việc chia thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thửa số 503 có diện tích theo đo đạc thực tế là 1.094,7m² tờ bản đồ số 02 do ông Châu Văn H5 đứng tên kê khai trong sổ mục kê, đất tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có sơ đồ hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH H7 kèm theo).
- Những người thừa kế của ông Châu Quang M2 (C, Châu Văn H5), có nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15/6/2021 bà Hứa Thị Thu L1, người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Tào Lài L kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 15/6/2021 bà Tào Thị Hồng Y là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Tào Lài L đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 16/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/KNPT-VKS-DS đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bà Hứa Thị Thu L1 đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày: bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Tào Thị S3 và cụ Kim S2.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư ông Võ Tuấn H2 trình bày: các bên đều thừa nhận di sản là của cụ S2, cụ S3 tạo lập trước năm 1975; về quan hệ thừa kế cũng thừa nhận.
Về thời hiệu khởi kiện: thời hiệu khởi kiện vẫn còn tuy nhiên án sơ thẩm cho rằng đã hết. Cụ S2 cụ S10 chết không để lại di chúc, chưa có sự thỏa thuận về phân chia cũng như chưa được xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.
Cụ S3 đã hiến phấn đất này cho chùa, sau khi cụ S3 chết chùa không nhận, phía bị đơn đứng ra nhận. Bị đơn không có tài liệu nào chứng minh. UBND huyện C cấp giấy chứng nhận cho bà Ú, chứng cứ hồ sơ đã thể hiện rõ việc cấp giấy cho bà Ú đã không đúng theo trình tự thủ tục. Việc này đã bị ông L khiếu nại.
Việc tòa án cấp sơ thẩm nhận định do ông M2 là người đã đứng kê khai, các hàng thừa kế đã cho ông M2. Năm 2014 ông L chỉ tranh chấp tài sản chung với bà Ú, nhận định này là không có căn cứ pháp lý.
Đối với kháng nghị: hoàn toàn thống nhất với kháng nghị. Diện tích tranh chấp là của cụ S2 cụ S3 chưa được phân chia, thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã cho thấy không nhất thiết phải hủy án, bởi: bản án sơ thẩm, và tất cả những người nhận thừa kế đều cho rằng nguồn gốc là của cụ S2 cụ S3, nếu làm vậy thì sẽ mất thời gian.
Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn kháng cáo của bà L1. Đối với sự vắng mặt của ông Tào N1, theo hồ sơ thể hiện là em ruột của ông L, là thuộc hàng thừa kế theo pháp luật. Mặc dù từ trước đến nay chưa có ý kiến rạch ròi, tuy nhiên, việc còn thiếu thủ tục của ông Tào N1 không ảnh hưởng, áp dụng án lệ 06 để tạm giao cho những người ở trong nước.
Luật sư P1- bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Y và bà Tào Thị Hồng Y trình bày: việc ông M2 quản lý sử dụng được kê khai đăng ký theo sổ mục kê theo Quyết định số 41, nguồn gốc của bà S3, bà S3 có mong muốn đất hiến chùa.
Đất tranh chấp không còn là di sản, ông M2 đứng tên trong sổ mục kê. Tại phiên tòa sơ thẩm, phần đất này thể hiện là của S3, cụ S3 và cụ S2 có hai người con: ông S4, bà Kim Thị K1. Cụ S2 cụ S3 chết không để lại di chúc
Phía bị đơn cho rằng cụ S3 hiến đất cho chùa, tại phiên tòa sơ thẩm có hỏi việc cho tặng chỉ là ý nguyện chưa thể hiện việc cho tặng, thực tế chùa cũng chưa có nhận. Trong sổ mục kê ông M2 đứng tên, thời điểm đó cụ S3 đã chết, phía nguyên đơn đã khởi kiện và UBND cũng đã hủy giấy chứng nhận.
Tờ cam kết mà bị đơn cung cấp phiên tòa sơ thẩm tôi cũng đã hỏi bị đơn khẳng định thời điểm đó bị đơn chuẩn bị xây nhà, ông M2 yêu cầu ông B viết tờ cam kết, cho nên chúng tôi không yêu cầu giám định.
Khi bà Y vào ở thì bà Ú cũng thừa nhận, có ông Tào Phước S5 nói thì lúc đó mới xuất hiện tờ cam kết này. Để nghị Hội đồng xét xử xem xét chia thừa kế theo pháp luật.
Luật sư N- người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ú: phía bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Phần đất này nguồn gốc của cụ S3 để lại, sau khi cụ S3 mất thực tế đã hiến đất cho chùa bằng tờ tường trình (bút lục 252), tuy nhiên do nơi đó hoang vắng nên chùa nói ai nhận lại phần đất này thì sự dụng, ông M2 mới sử dụng. Nếu như ông M2 không vô sử dụng thi người khác sẽ vô sử dụng và được đăng ký kê khai.
Việc bà Y, ông B cất nhà đã có tờ cam kết, bà Y cho rằng chồng bà làm bà không biết. Mặc dù ông B viết và ký thay cho bà Y nhưng không thể nào bà Y không biết được.
Ông M2 sử dụng ổn định hơn 40 năm này, đủ cơ sở khẳng định phần đất này không còn là di sản để lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: tại phiên tòa hôm nay phía bị đơn cung cấp bản gốc của giấy cam kết do vợ chồng bà Y khi được công đoàn hỗ trợ làm nhà, đây là tình tiết mới.
Xét về nội dung, quá trình giải quyết của sơ thẩm, nguồn gốc do cha mẹ ông bà để lại. Cụ S2 chết năm 1976, cụ S3 chết 1978, khi cụ S3 trong thời gian còn sống có cho chùa, không có tài liệu nào chứng minh diện tích đất này cho chùa. Do đó cần xác định đấy là di sản thừa kế, ông Tào Lài L yêu cầu chia là có căn cứ.
Xét thấy, kháng cáo, kháng nghị có nội dung giống nhau: án sơ thẩm có vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết không có ý kiến của những người thừa kế. Còn về nội dung người có yêu cầu chia thừa kế xin được chia ½ thừa kế thì chưa tiến hành đo vẽ xác định, bởi trên diện tích này ngoài gia đình bà Ú còn có gia đình bà Y và con ở trên đất này. Bị đơn xuất trình giấy cam kết ngày 24-5-2005 nhưng bà Y không đồng ý, bà Y yêu cầu giám định. Đối với kháng cáo của nguyên đơn cho rằng không cần thiết hủy bản án sơ thẩm thì tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay không thể khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, kháng nghị của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Hứa Thị Thu L1 và bà Tào Thị Hồng Y làm trong hạn luật định, Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng trong thời hạn nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét thấy, ông Tao N5 (R) là con ông Tào Lài S7 em ruột ông Tào Lài L là một trong những người thừa kế thế vị của ông Tào Lài S7. Ông Tao N5 (R) đang định cư tại Úc, không có ủy quyền cho ai tham gia tố tụng. Về thủ tục tố tụng cấp tống đạt văn bản tố tụng cho ông Tao N5 (Ra Long): Tại Thông báo về việc mở phiên hòa giải và mở phiên tòa số 1203/TB- TA ngày 13/8/2019 Tòa án cấp sơ thẩm thông báo cho ông Tao N5 (R) (đang cư trú tại A), Tòa án sẽ mở phiên tòa vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 13/5/2020, trường hợp phải hoãn thì phiên tòa sẽ được mở lại vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 15/6/2020.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QÐST-DS ngày 04/3/2021 thì vụ án sẽ được xét xử vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 30/3/2021. Do vắng mặt đương sự nên ban hành quyết định hoãn phiên tòa số 30/2021/QÐST-DS ngày 30/3/2021 ấn định phiên tòa sẽ được mở lại vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 28/4/2021. Do ngày 28/4/2021 Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự Hội nghị tập huấn nên ban hành Thông báo về việc dời ngày xét xử số 351/TB-TA ngày 09/4/2021 của Tòa án tỉnh Sóc Trăng, ngày xét xử vụ án 28/4/2021 sẽ được dời lại vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 07/5/2021. Do Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa có việc đột xuất cần phải hoãn phiên tòa nên ban hành quyết định hoãn phiên tòa số 46/2021/QÐST-DS ngày 07/5/2021 ấn định phiên tỏa sẽ được mở lại vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 31/5/2021 và đã tiến hành xét xử vụ án nhưng trong hồ sơ không có chứng cứ nào thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa số 30/2021/QÐST-DS ngày 30/3/2021, Thông báo về việc dời ngày xét xử số 351/TB- TA ngày 09/4/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 46/2021/QÐST-DS ngày 07/5/2021. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt ông Tao N5 (R) là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất phần đất tranh chấp thuộc thửa số 503 có diện tích theo đo đạc thực tế là 1.094,7 m² có vị trí theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng và sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo biên bản có nguồn gốc của cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3 tạo lập. Cụ Kim S2 chết năm 1976 và cụ Tào Thị S3 chết năm 1978, các cụ không để lại di chúc.
Quá trình kê khai đăng ký và quản lý sử dụng đối với phần đất trên như sau:
Theo nguyên đơn thì sau khi cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3 chết thì căn nhà được xây cất trên thửa đất số 503 do ông Châu Quang M2 là chồng của bà Ú trực tiếp quản lý sử dụng, đến năm 2016 nhà của cụ S3 bị hư hỏng nên vợ của ông M2 là bà Út c lại nhà mới trên nền nhà cũ, đồng thời theo biên bản đo đạc thẩm định tại chỗ lập ngày 29-5-2019 thể hiện liền kề căn nhà cũ của cụ S3 ở trước đây là căn nhà của vợ chồng bà Ú và nhà của các con của bà Ú.
Bị đơn bà Lâm Thị Ú cho rằng, sau khi cụ Kim S2 chết cụ Tào Thị S3 mới hiến cho chùa B3 lúc này ông Danh H3 là trụ trì, ông Thạch Kha M3 là ban quản trị chùa nhận. Đến năm 1978, cụ S3 chết, khi vừa hỏa tang xong về thì Đại đức D Họ mới kêu con cháu về đầy đủ để công bố phần đất này cụ S3 đã hiến cho chùa nhưng chùa không lấy, nay cụ S3 chết rồi con cháu ai đứng ra thờ phụng cụ S3 thì giao đất lại cho người đó. Trong lúc đó không ai đứng ra nhận, vì đất quá hoang vắng và không có quyền lợi, nên vợ chồng bà Ú thấy vậy mới nhận.
Tuy nhiên, do quyền sử dụng đất là chung của cụ Kim S2 và cụ Tào Thị S3 nên nếu cụ S3 có hiến đất cho chùa thì cũng chưa có hiệu lực đối với ½ quyền sử dụng đất còn lại, ½ diện tích sử dụng còn lại của S2 là di sản chưa chia.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, Biên bản định giá tài sản và Sơ đồ hiện trạng thửa đất cùng ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dẫn tỉnh Sóc Trăng (BL 134-145): Phần đất tranh chấp có diện tích 1094,7m² thửa 503 tờ bản đồ 02 tọa lạc ấp B, A, C, tỉnh Sóc Trăng, trong diện tích 1094,7m² có 300m² đất ONT. Tài sản và cây trồng trên đất gồm:
- 2.1 Căn nhà thứ nhất của bà Tào Thị S3 chết để lại do bà Lâm Thị Ú quản lý diện tích ngang 4m x dài 20,3m = 81,3m²
- 2.2 Căn nhà thứ hai của bà Lâm Thị Ú có diện tích có diện tích ngang 4m x dài 19,62m = 78,5m².
- 2.3 Căn nhà thứ 3 của ông Châu Hoàng  xây dựng năm 2009 có diện tích ngang 4,5m x dài 12,14m = 56m²
- 2.4 Căn nhà thứ 4 của bà Tào Thị Hồng Y quản lý sử dụng xây dựng năm 2005 có diện tích ngang 4,2m x dài 12,14m = 51m².
Theo bà Ú cho rằng, việc bà Tào Thị Hồng Y là con của ông L ở trên đất của vợ chồng tôi là năm 1999 xin ở nhờ, đến năm 2005 cất nhà lại thì gia đình của tôi ngăn cản không cho nên vợ chồng bà Y có làm tờ thỏa thuận lập ngày 24-5-2005 xin ở tiếp đến năm 2015 thì bà đồng ý.
Qua trích lục sổ mục kê thửa đất số 503 thể hiện người đứng tên là ông Châu Quang M2 (Châu Văn H5) là chồng của bà Ú. Trong quá trình quản lý sử dụng nhà đất thì ông M2 thực hiện kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất và chỉ đứng tên kê khai trong sổ mục kê. Phần đất tranh chấp cho đến hiện nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ai.
Cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp do vợ chồng bà Ú quản lý sử dụng và đứng tên kê khai đăng ký trong sổ mục kê nên đủ điều kiện được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa đủ căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn yêu cầu chia bằng hiện vật, bà Y yêu cầu giám định tờ cam kết ngày 24-5-2005. Cần tiến hành đo vẽ, xác định hiện vật có thể chia theo phần hay không?
Từ những phân tích nêu trên, xét kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng có căn cứ nên được chấp nhận. Hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[3]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ nghị nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Hủy bản án Dân sự sơ thẩm số 12/2021/DS-ST ngày 01/6/2021 “Về việc tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải.
H6 lại 300.000 đồng cho bà Tào Thị Hồng Y theo biên lai thu số AA/2017/0009090 ngày 22-6-2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
Bản án số 222/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 222/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao lại hồ sơ vụ án cho tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án.
