|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 222/2024/HSST Ngày: 21/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh
Các Hội thẩm nhân dân 1. Ông Phùng Văn Tầu
2. Ông Nguyễn Đình Hiền
- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Ông Nguyễn Chí Hiệp –Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông-Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã xét xử công khai trực tuyến sơ thẩm tại điểm cầu Toà án nhân dân thành phố Hà Nội vụ án hình sự thụ lý số: 177/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ tên: NGUYỄN TRỌNG D, Sinh năm 1963 Giới tính: Nam;
Tên gọi khác: không.
HKTT: Tổ 5, Phường Văn Quán, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Chỗ ở: Yên Phúc, phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/10;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn Trọng P; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S (đều đã chết); Họ tên vợ: Nguyễn Thị Kim T; Có 01 con sinh năm 1996.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 119/HSST ngày 13/9/1986 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 25/01/1991 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” và 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Buộc bị cáo phải chấp hành 24 tháng tù cho cả hai tội;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2005/HSST ngày 04/4/2005 của Tòa án nhân dân thị xã Hà Đông xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2007;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2008/HSST ngày 10/12/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2009;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 483/2011/HSST ngày 13/9/1986 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/02/2014;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2016/HSST ngày 01/04/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/8/2018;
Bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an Thành phố H.
|
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim T, SN 1967 Nơi cư trú: Y, phường P, quận H, thành phố Hà Nội |
( Có mặt tại phiên toà ) ( Có mặt tại phiên toà ) |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 02/4/2024, Nguyễn Trọng D điều khiển xe máy Honda Wave sơn màu đen bạc biển kiểm soát 18B1-127.01 đi từ phường P, quận H, TP. đến trước cổng Học viện C phường M, quận H, TP. để đi xe ôm. Khi đến nơi, D gặp người nam giới tên H (cùng làm nghề xe ôm với D). Tại đây, H hỏi D “anh có biết chỗ nào bán ma túy đá không, mua hộ em”, D nói “em muốn mua bao nhiêu”, H nói “anh mua hộ em một trăm nghìn, xong việc em trả anh một trăm nghìn tiền công”. D đồng ý, H đưa cho D 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), D cầm tiền cho vào túi quần phía sau đang mặc, điều khiển xe máy đi đến khu vực đường N, phường Q, quận H, TP. để tìm mua ma túy, còn H đứng chờ tại cổng trường. Khi đi đến khu vực ngõ I đường N, phường Q, quận H, TP., D gặp một người nam giới không quen biết đang đứng ở vỉa hè. D xuống xe, lại gần người nam giới hỏi “anh bán ma túy tổng hợp dạng đá không”, người nam giới trả lời “có, lấy bao nhiêu”. D nói “bán cho tôi một trăm nghìn” đồng thời lấy trong người ra 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) đưa cho người nam giới. Người này cầm tiền và bảo D đứng chờ. Sau đó, người nam giới đi đâu D không biết. Khoảng 10 phút sau người nam giới quay lại, đưa cho D 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa ma túy tổng hợp dạng đá. D cầm túi ma túy mua được tại lòng bàn tay trái, điều khiển xe máy đi về khu vực cồng trường H1, phường M, quận H, TP. để giao lại ma túy cho H và nhận tiền công.
Đến khoảng 15 giờ 30, khi D đi đến trước cửa nhà số A, ngõ I N, tổ B, phường Q, quận H, TP. thì bị Công an phường P phối hợp với Công an phường Q, Công an phường P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Quá trình bị bắt giữ D đã tự nguyện giao nộp túi ma túy tổng hợp dạng đá vừa mua được cho cơ quan Công an, tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng tại chỗ rồi đưa D cùng vật chứng thu giữ về trụ sở Công an phường Q, quận H, TP. để điều tra làm rõ.
Tang vật thu giữ của Nguyễn Trọng D gồm:
- 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước (2x2) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen bạc, BKS 18B1-127.01, số khung RLHJC5214CY108733, số máy JC52E-4129798, đã qua sử dụng
Tại Kết luận giám định số 2605/KLGĐ ngày 12/4/2024 của Phòng PC09 - Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,296 gam”.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Trọng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời khai của Nguyễn Trọng D phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen bạc, BKS 18B1-127.01, số khung RLHJC5214CY108733, số máy JC52E-4129798 thu giữ của D. Quá trình điều tra xác định xe đăng ký chính chủ Đỗ Nguyên Đ (sinh năm 1958, HKTT: xã N, huyện N, tỉnh Nam Định). Ông Đ mua xe và đăng ký chính chủ vào khoảng tháng 10/2013, do không có nhu cầu sử dụng nên ông đã bán chiếc xe trên cho một người nam giới không quen biết tại chợ X, tỉnh Nam Định vào khoảng tháng 5/2019. Bà Nguyễn Thị Kim T (vợ D) khai mua xe tại chợ X thành phố N vào khoảng tháng 8/2019 với giá 4.000.000 đồng, khi mua có giấy tờ đầy đủ nhưng bị thất lạc hiện nay còn giữ được giấy chứng nhận đăng ký xe máy. Việc D dùng làm phương tiện đi mua ma túy ngày 02/4/2024 bà T hoàn toàn không biết. Bà T có đơn xin lại chiếc xe
Tại bản cáo trạng số 174/CT-VKSHĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trọng D và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D từ 24-27 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 0,252 gam ma tuý Methamphetamine (khối lượng ban đầu 0,296 gam ; PC09 lấy mẫu giám định là 0,044 gam.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen bạc, BKS 18B1-127.01, số khung RLHJC5214CY108733, số máy JC52E-4129798 và 01 đăng ký xe số 015032 BKS 18B1-127.01 mang tên Đỗ Nguyên Đ
Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Trọng D tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 15h30 ngày 02/4/2024 tại trước cửa nhà số A, ngõ I N, tổ B, phường Q, quận H, TP., Nguyễn Trọng D có hành vi tàng trữ trái phép 0,296 gam ma túy Methamphetamine mục đích mua hộ người nam giới tên H nhằm lấy 100.000 đồng tiền công đi mua ma túy thì bị lực lượng Công an phường P phối hợp với Công an phường Q, Công an phường P, quận H, TP. kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Bị cáo Nguyễn Trọng D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng D đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3]. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Trọng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
[4]. Ma túy là hiểm hoạ lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, hành vi của bị cáo đã cố ý xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma tuý. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7]. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Trọng D có 06 tiền án về các tội Cướp tài sản công dân, Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy đã được xoá án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu.
Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo Nguyễn Trọng D ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Trọng D là người không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9]. Về xử lý vật chứng:
Số ma tuý 0,244 gam ma tuý Methamphetamine ( khối lượng ban đầu 0,296 gam ; PC09 lấy mẫu giám định là 0,044 gam thu giữ của Nguyễn Trọng D là vật cấm lưu hành nên thấy cần tịch thu cho tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen bạc, BKS 18B1-127.01, số khung RLHJC5214CY108733, số máy JC52E-4129798 thu giữ của D. Kết quả tra cứu xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Bà Nguyễn Thị Kim T có yêu cầu xin lại xe và không yêu cầu giải quyết về dân sự nào khác.
[10]. Các vấn đề khác:
Về người nam giới bán ma tuý cho D tại khu vực ngõ I N, tổ B, phường Q, quận H, TP. với giá 100.000 đồng. D không biết rõ nhân thân lý lịch, ngoài lời khai của D không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ; Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ đối tượng bán ma túy cho D, đủ căn cứ xử lý sau.
Đối với người nam giới tên H đưa tiền cho D nhờ mua ma túy ngày 02/4/2024, do D không biết rõ nhân thân, lý lịch địa chỉ và tên, tuổi cụ thể của H là gì, ở đâu, chỉ biết tên H do anh ta tự giới thiệu. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được.
[11]. Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự: điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Nguyễn Trọng D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên toà phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng D 24 ( hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,252 gam ma tuý Methamphetamine ( khối lượng ban đầu 0,296 gam ; PC09 lấy mẫu giám định là 0,044 gam.)
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen bạc, BKS 18B1-127.01, số khung RLHJC5214CY108733, số máy JC52E-4129798 và 01 đăng ký xe số 015032 BKS 18B1-127.01 mang tên Đỗ Nguyên Đ
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho tang vật Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024)
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Trọng D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán Nguyễn Thị Trâm Anh |
Bản án số 222/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 222/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng D
