TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 222/2025/HS-ST
Ngày: 23-5-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Việt Cường
2. Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ông Đỗ Việt A – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 218/2025/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Mạnh C - Sinh năm 1983; Nơi cư trú: GL, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cấp: Cục C2 về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C1 (chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1963; vợ: Lại Thị L1, sinh năm 1982 và 01 con, sinh năm 2015; Nhân thân: Ngày 25/10/2000 bị Công an phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi "Cố ý gây thương tích"; Ngày 23/10/2001, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo bản án số 141/HSST (chấp hành xong án phí ngày 29/10/2002); Ngày 17/12/2001, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo bản án số 166/HSST, chấp hành xong án phí ngày 15/3/2002; Ngày 29/03/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 năm tù về tội "Cướp tài sản" theo bản án 69/HSST, tổng hợp với 12 tháng tù của bản án sơ thẩm số 166/HSST ngày 17/12/2001 của TAND TP. Thanh Hóa buộc Nguyễn Mạnh C phải chấp hành 07 năm tù, chấp hành xong án phí ngày 27/6/2002, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/08/2005; Ngày 18/7/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm, đã được miễn thi hành án phí ngày 12/01/2010. Ngày 15/9/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (xét xử sơ thẩm lại vụ án đã xét xử ngày 18/7/2008) xử phạt 24 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 230/2009/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/5/2010, chấp hành xong án phí ngày 27/8/2018, phần dân sự bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường; Ngày 27/9/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số 224/2010/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/12/2011, chấp hành xong án phí ngày 28/9/2016; Ngày 21/8/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số 206/2012/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 07/12/2014, chấp hành xong án phí ngày 25/9/2018, bồi thường xong phần dân sự ngày 17/9/2019. Tiền án, Tiền sự: Không. Tạm giữ: 20/11/2024; tạm giam: 26/11/2024. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T - Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Duy T – Sinh năm: 1983; Nơi cư trú: SN D H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cấp: Cục C2 về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Xuân T1, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; vợ, con: Chưa; Nhân thân: Ngày 17/01/2018, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án 13/2018/HSST, chấp hành xong án phí ngày 08/4/2018; Ngày 25/09/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số 267/2019/HSST, chấp hành xong bình phạt tù ngày 12/11/2020, chấp hành xong án phí ngày 20/11/2019; Ngày 22/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số 335/2021/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/5/2022, chấp hành xong án phí ngày 22/3/2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 07/9/2024 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy", phạt tiền 1.500.000đ, đã nộp phạt ngày 08/9/2024; Ngày 06/10/2024 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy", phạt tiền 1.500.000đ, chưa nộp tiền phạt. Tạm giữ: 20/11/2024; tạm giam: 26/11/2024. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T - Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 40 phút ngày 19/11/2024, Tổ tuần tra 282 phía Tây, Công an thành phố T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố T làm nhiệm vụ tại đường L, phường Đ, thành phố T, khi đến trước số nhà C L, phường Đ, thành phố T thì phát hiện Nguyễn Văn H1, sinh năm 1983, trú tại số nhà F T, phường N, thành phố T điều khiển xe mô tô chở Lê Duy T ngồi sau không đội mũ bảo hiểm, Tổ tuần tra ra tín hiệu yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì Lê Duy T nhảy xuống xe và ném từ tay phải một túi nilong màu trắng xuống đường thì bị Tổ công tác phát hiện thu giữ, còn H1 điều khiển xe tăng ga bỏ chạy. T khai nhận túi nilong màu trắng bên trong chứa 10 viên ma tuý hồng phiến là của T và H1 cùng nhau góp tiền mua, đang cất giấu mục đích sử dụng.
Về nguồn gốc số ma túy: Khoảng 19 giờ ngày 19/11/2024 T gặp H1 tại tại ngã ba Đ, phường Đ, thành phố T, T và H1 rủ nhau mỗi người góp 500.000₫ mua ma túy để cùng sử dụng, H1 đưa cho T 500.000đ, T nói H1 chở T đi mua ma túy. Trên đường đi, Lê Duy T liên hệ qua zalo "Kaka" của Nguyễn Mạnh C hỏi mua 1.000.000₫ ma túy hồng phiến. C đồng ý bán và hẹn T giao dịch mua bán ma túy tại C, đổi diện nhà hát L3, phường Đ, thành phố T. Khi đến gần khách sạn S, phường Đ, thành phố T thì T nói H1 đứng đợi, còn T một mình đi lại Công viên cây xanh gặp Nguyễn Mạnh C đang đứng ở vỉa hè phía ngoài công viên, gặp C, T đưa cho C 1.000.000 đồng, C đưa cho T 10 viên ma túy hồng phiến được dựng trong túi nilong màu trắng, T mang ma túy hồng phiến vừa mua được quay lại chỗ Nguyễn Văn H1 và lên xe H1 chở đi, khi cả hai đi đến khu vực trước số nhà CL, phường Đ, thành phố T thì bị phát hiện thu giữ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành triệu tập Nguyễn Mạnh C lên làm việc. Tại Cơ quan CSĐT C đầu thú khai nhận khoảng 19 giờ 15 phút ngày 19/11/2024 đã bán ma túy cho Lê Duy T và C tự giác giao nộp 05 viên ma túy hồng phiến đang cất giấu trong người và số tiền 1.000.000đ tiền bán ma túy cho T.
Ngày 19/11/2024, khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Mạnh Cng tự giác lấy ở phía sau bồn cầu trong nhà vệ sinh giao nộp cho tổ công tác01 lọ nhựa bên trong chứ 03 viên nén hình tròn màu đỏ, C khai nhận là ma túy, C cất giấu mục đích bán kiếm lời.
Tại kết luận giám định số 4490/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- - 10 viên nén màu đỏ của phong bì ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,035 gam, loại Methamphetamine;
- - 05 viên nén màu đỏ của phong bì ký hiệu M2 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,517 gam, loại Methamphetamine;
- - 03 viên nén màu đỏ của phong bì ký hiệu M3 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,304 gam, loại Methamphetamine;
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Mạnh C và Lê Duy T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K - Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong hoàn mẫu giám định, có chữ ký, ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ, Lại Thị Thanh L2, Hoàng Văn D và có các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro; Số imei: 35668111638374; gắn sim số 0981591378 điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh C; 01 điện thoại di động Oppo A31, kiểu máy CPH2073 bên trong gắn sim số 0974841680, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lê Duy T; Số tiền 1.000.000đ thu giữ của Nguyễn Mạnh C. Hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
Cáo trạng số 152/CT-VKSTPTH ngày 25/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS, bị cáo Lê Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (THNS) của từng bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251 (đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C); điểm c Khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo Lê Duy T); điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS cho hai bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 42 đến 48 tháng tù, Lê Duy T từ 30 đến 36 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro; Số imei: 35668111638374; gắn sim số 0981591378 điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh C; 01 điện thoại di động Oppo A31, kiểu máy CPH2073 bên trong gắn sim số 0974841680, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lê Duy T; Số tiền 1.000.000đ thu giữ của Nguyễn Mạnh C. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
- Về hành vi phạm tội: Về lời khai tại phiên tòa hôm nay đối chiếu với lời khai của các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 19 giờ 40 ngày 19/11/2024 tại Công viên cây xanh phường Đ, thành phố T, Lê Duy T đã có hành vi mua của Nguyễn Mạnh C 1,035g ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng, trên đường T đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.
Quá trình điều tra C đã tự giác giao nộp 0,517g ma túy, loại Methamphetamine; khám xét khẩn cấp nơi ở của C thu giữ 0,304g ma túy loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của BLHS, Lê Duy T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn H1, theo lời khai của T, cả hai cùng rủ nhau góp mỗi người 500.000đ để cùng mua ma túy sử dụng, tuy nhiên quá trình điều tra, đối chất H1 không thừa nhận việc góp chung tiền cùng T mua ma túy, việc T tàng trữ ma túy H1 không biết, ngoài lời khai T không có tài liệu, chứng cứ nào khác, do đó không đủ cơ sở để xử lý H1.
Đối với người đàn ông tên M khoảng 55 tuổi nhà ở khu vực D, phường P, thành phố T bán ma túy cho C, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra rà soát khu vực trên nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
- Tính chất vụ án: Là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, các bị cáo có nhân thân xấu. Khi bị cáo T có nhu cầu mua ma túy đã gọi điện hỏi bị cáo C, bị cáo C do hám lợi đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác, các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- Trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan pháp luật các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú, bị cáo C có chú ruột là liệt sỹ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho các bị cáo quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.
- Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, nghĩ nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Mạnh C, Lê Duy T là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, số tiền 1.000.000đ thu giữ của Nguyễn Mạnh C do phạm tội mà có. 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T có hình dấu của Phòng K kèm chữ kí, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Lại Thị Thanh L2, Hoàng Văn D. Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 116/2025/THA. ngày 12/5/2025 cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 của BLTTHS; Điều 47 BLHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước và tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Lê Duy T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251 (đối với Nguyễn Mạnh C); Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS (đối với bị cáo Lê Duy T); điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS; Điều 47 BLHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án (áp dụng cho hai bị cáo).
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Mạnh C 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2024.
- Bị cáo Lê Duy T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu xanh; Số imei: 356681116383743, điện thoại gắn thu giữ của Nguyễn Mạnh C; 01 điện thoại di động Oppo A31, màu trắng, kiểu máy CPH2073, điện thoại gắn kèm theo sim thu giữ của Lê Duy T. Cả hai điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong; Tiền Ngân hàng N: 1.000.000₫ đã nộp vào tài khoản 3949 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa tại Kho bạc Nhà nước khu vực X. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T có hình dấu của Phòng K kèm chữ kí, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Lại Thị Thanh L2, Hoàng Văn D.
Toàn bộ vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 116/2025/THA ngày 12/5/2025.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Mạnh C, Lê Duy T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 222/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về hình sự
- Số bản án: 222/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
