Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 222/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Phạm Thị Bích Ngọc

  • Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 232/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 847/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 09 năm 2021 đối với bị cáo:

  1. Đỗ Thị T, sinh năm 1984 tại Tuyên Quang. Nơi ĐKHKTT: TỔ F Nhà Q, phường P, quận H, Hà Nội; nơi ở hiện tại: Căn nhà trọ thuộc ngõ C N, phường K, quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T1 và bà Dương Thị T2 (đã chết); có chồng là Vũ Bá L (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 14/01/2024; tạm giam ngày 18/01/2024; có mặt.

  2. Nguyễn Minh C, sinh năm 1993 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: số C + 04 B76, Tổ E, phường C, quận H, Hải Phòng; nghệ nhiệp: Lao động tư do; Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức M (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 08/01/2024; tạm giam ngày 16/01/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 15 phút ngày 08/01/2024, Tổ công tác Công an phường K, quận L, Hải Phòng kiểm tra căn nhà trong ngõ C N, phường K, L, Hải Phòng. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có 04 người gồm: Đỗ Thị T (chủ nhà), Nguyễn Minh C, Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Sơn H1 có biểu hiện nghi vấn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình lực lượng Công an kiểm tra đã phát hiện, thu giữ tại nền nhà tắm 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02 x 2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (Mẫu số 01); T3 tại gầm giường trong căn nhà nêu trên 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình thủy tinh màu trắng, 01 tẩu thủy tinh màu trắng bên trong có bám dính tạp chất nghi là ma túy (Mẫu số 02), 02 ống hút nhựa màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ 01 chiếc điện thoại OPPO màu đỏ đã qua sử dụng của Đỗ Thị T; 01 chiếc điện thoại Redmi 10C đã qua sử dụng của Nguyễn Minh C. Sau đó, tổ công tác dẫn giải các đối tượng Thanh, C, C1, H1 cùng vật chứng về Công an phường K biên bản giải quyết. Quá trình làm việc tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn C1 giao nộp 01 chiếc điện thoại OPPO A55 màu đen; Nguyễn Sơn H1 giao nộp chiếc điện Iphone 6s Plus màu vàng đã qua sử dụng.

Cơ quan điều tra đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp căn nhà trong ngõ C N, phường K. Quá trình khám xét thu giữ:

  • - Thu trên mặt bàn gỗ trong phòng: 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 08 x 04cm và 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 08 x 10cm, 01 bật lửa.

  • - Thu trên chiếc đệm ở trên nền nhà gần giường ngủ 01 chiếc áo khoác màu đen (C sử dụng). Kiểm tra, thu giữ trong túi áo khoác ngoài bên phải: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu đỏ đựng 01 túi nilon màu trắng xanh kích thước 12 x 10cm, bên trong có 01 túi nilon màu trắng được hàn kín kích thước 05 x 04cm đựng tỉnh thể màu trắng (Mẫu KX1).

Tại bản kết luận giám định số 33 ngày 11/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon kích thước 02 x 2,5cm thu giữ tại nền nhà tắm (Mẫu số 1) là ma túy, có khối lượng: 0,11 gam, là loại: Methamphetamine; Chất màu nâu đen trong tẩu thủy tinh (Mẫu số 2) là ma túy, có khối lượng: 0,05 gam, là loại: Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số 34 ngày 12/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ trong áo Nguyễn Minh C (Mẫu KX1) có khối lượng: 6,83 gam, là D, không phải là ma túy.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Minh C, Đỗ Thị T, Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Sơn H1 xác định dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra Đỗ Thị T khai nhận: Căn nhà T đang ở trong ngõ C N, phường K, quận L, Hải Phòng là của chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1992, nơi cư trú: phường V, quận K, Hải Phòng (là bạn xã hội) cho T mượn để ăn ở, sinh hoạt khoảng 02 tháng trước (sau đây gọi là nhà 393). Quá trình ăn ở sinh hoạt có Nguyễn Văn C1, Nguyễn Minh C và Nguyễn Sơn H1 là bạn xã hội thường xuyên đến chơi và sử dụng ma túy nhiều lần với nhau. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Buổi trưa khoảng ngày đầu tháng 01/2024, T đang ở nhà 393 cùng C1 thì có Trịnh Văn Đ, sinh năm 1990, đăng ký nhân khẩu thường trú tại: Thôn A, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Số H P, phường Đ, quận H, Hải Phòng - là bạn xã hội với T đến chơi. Đ đi vào nhà và lấy 01 túi ma túy đá từ trong túi áo đổ vào coóng thủy tinh của bộ D1 sử dụng ma túy đá mà T để tại bàn uống nước. Bộ dụng cụ này do T tự chế bằng chai nhựa, sau đó đục lỗ cắm ống hút và coóng thủy tinh vào. Đồng châm lửa sử dụng ma túy xong thì mời C1 đi ra chiếu giữa nhà cùng sử dụng ma túy đá. Lúc này, T đi vào nhà vệ sinh, một lát sau T đi ra chỗ Đ và C1 ngồi, tự châm và hút một hơi ma túy đá rồi đi làm. Bộ D1 sử dụng ma túy đá này T đã vứt chai nhựa và ống hút đi, còn chiếc coóng thủy tinh T để lại tại gầm giường.

Lần thứ hai: Chiều ngày 05/01/2024, Nguyễn Minh C đến nhà trọ của T thì gặp C1 và T đang ở trong nhà. C ngồi nói chuyện với T và C1 một lúc thì T đi vào bếp. Lúc này, T nghe thấy C hỏi C1 “bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá đâu”, C1 trả lời “vẫn chỗ cũ”. Khi T đi ra thì thấy C lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm bình thủy tỉnh có gắn ống nhựa và coóng thủy tỉnh đề ra sàn nhà, rồi C lấy 01 túi ma túy đá đổ toàn bộ vào coóng thủy tỉnh. C dùng bật lửa đốt ma túy đá trong coóng sử dụng 01- 02 hơi. C sử dụng xong thì C châm lửa đốt ma túy đá mời C1 và T cùng sử dụng. Sau khi cả ba sử dụng ma túy xong, do lượng ma túy trong coóng thủy tinh vẫn còn nên C bảo T: “cứ để đấy lần sau chơi”, T đồng ý rồi C cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá vào gầm giường ngủ của T và ra về.

Lần thứ ba: Khoảng 23 giờ ngày 07/01/2024, C đến nhà T gọi cửa, C1 là người mở cửa cho C vào nhà, T ốm nằm trên giường. Sau đó, T thấy C và C1 sử dụng ma túy đá với nhau trên chiếu giữa nhà. Đến sáng ngày 08/01/2024 có thêm Nguyễn Sơn H1 là em xã hội với T đến và ngồi chơi cùng C1 và C ở chiếu giữa nhà. Lúc này, T nghĩ C, C1 và H1 sử dụng ma túy đá nhưng Thanh ốm, mệt nên T tiếp tục ngủ một lúc sau thì có lực lượng Công an đến kiểm tra nhà T thu giữ tang vật như đã nêu trên. T biết C1, C, H1 sử dụng ma túy bằng bộ dụng cụ ngày 05/01/2024 C để tại gầm giường ngủ của T, trong đó có chiếc cóong thủy tinh là của T, do ốm mệt nên không tham gia sử dụng cùng và không có hành vi ngăn cản C1, C, H1 sử dụng ma túy.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Minh Công K nhận: Khoảng ngày 04/01/2024, Nguyễn Minh C đi taxi một mình đến đón bạn là Trịnh Văn Đ tại khu vực đầu đường V, Đ lên xe taxi ngồi cùng C ở hàng ghế sau. C thấy Đ làm rơi 01 túi nilon kích thước 02 x 02cm chứa ma túy đá từ trong áo khoác xuống sàn xe, C dùng

chân trái đè lên túi ma túy và nói chuyện với Đ một lúc rồi cúi xuống nhặt túi ma túy đá cất giấu trong người. C cầm túi ma túy đá nhặt được về nhà, rồi lên mạng xã hội T4 đặt mua 01 túi Soda với giá 400.000 đồng. Trưa hôm sau, Công nhận được 01 gói hàng bên trong có 01 túi nilon đựng tinh thể màu trắng. C cho chất tinh thể vào 01 túi nilon màu trắng hàn kín lại rồi cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng L1 và cất vào túi áo khoác màu đen C đang mặc. Sau đó, C cầm 01 chai thủy tinh có nắp chia và 01 đoạn ống nhựa (là dụng cụ để sử dụng ma túy đá) đến căn nhà trọ của Đỗ Thị T. Khi C đến nhà T thì chỉ có C1 đang nấu cơm trong bếp, Công tự lấy chiếc coóng thủy tinh bên trong vẫn còn một ít ma túy đá (đã có sẵn trong nhà của Đỗ Thị T) để gắn vào chai thủy tỉnh có nắp chia và 01 đoạn ống nhựa mà C mang theo tạo thành 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Lắp xong, C sử dụng 02 hơi hết số ma túy có trong coóng. Chiều ngày 05/01/2024, C cầm túi ma túy đá nhặt được của Đ đến nhà của T. C đến nhà 393 thấy có C1 và T đang ở trong nhà. C lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá mà C đã lắp để trong gầm giường của T đổ ma túy đá vào trong coóng rồi cùng C1 và T sử dụng. C là người châm lửa đốt ma túy đá mời C1 và T sử dụng. Sau khi cả ba sử dụng ma túy xong, C cất bộ dụng cụ trở lại vào gầm giường ngủ của T và ra về.

Khoảng 23 giờ ngày 07/01/2024, C đến nhà T. C1 mở cửa cho C vào nhà. T ốm nằm ngủ trên giường. C lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá trong gầm giường T đang nằm, đốt ma túy đá có sẵn trong coóng thủy tinh rồi cùng C1 sử dụng sau đó, C ra khỏi nhà T đi về nhà nhưng do không có chìa khóa vào nhà nên đến khoảng 04 giờ ngày 08/01/2024, C lại quay lại nhà T. Lúc này, T vẫn nằm ngủ trên giường, còn C1 ngồi chơi điện tử. C ngồi dưới sàn nhà tiếp tục lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ra sử dụng và gọi C1 xuống sử dụng ma túy đá cùng, một lúc sau C1 xuống sử dụng ma túy đá rồi quay lại giường ngồi. Một lúc sau Nguyễn Sơn H1 đến nhà T chơi và sử dụng ma túy. C cầm bình châm lửa đốt ma túy đá mời H1 sử dụng. Sau đó, C cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá vào gầm giường rồi ra ngồi nói chuyện cùng C1 và H1. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, khi T, C, C1, H1 đang ở phòng trọ của T thì Công an phường K, quận L, Hải Phòng tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Nguyễn Văn C1 khai: Buổi trưa khoảng ngày đầu tháng 01/2024 C1, T, Đ cùng sử dụng ma túy đá tại căn nhà trọ số C N. Đ là người mang ma túy đá đến rồi đổ vào coóng thủy tinh của bộ D1 sử dụng ma túy đá của T để tại bàn uống nước rồi châm lửa đốt và mời T, C1 cùng sử dụng, sau khi sử dụng xong thì Đ đi đâu, làm gì C1 không biết.

Khoảng 23 giờ ngày 05/01/2024, C đến nhà T thì gặp C1 đang ở nhà cùng T. Cả ba ngồi chơi nói chuyện một lúc thì C bỏ túi ma túy đá ra đổ vào coóng thủy tinh rồi châm lửa đốt tự sử dụng, sau đó C châm lửa đốt ma túy trong coóng thủy tinh mời C1 và T sử dụng. Sau khi cả ba sử dụng ma túy xong thì C cất bộ dụng cụ vào gầm giường rồi đi ra ngoài. Đến khoảng 05 giờ ngày 08/01/2024, C quay lại nhà T gọi cửa thì C1 dậy mở cửa cho C vào nhà. C lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy

ra tiếp tục tự sử dụng và mời C1 cùng sử dụng nhưng C1 không sử dụng. Khoảng 06 giờ ngày 08/01/2024 thì Nguyễn Sơn H1 đến tự mở cửa vào nhà T. C1 thấy C và H1 ngồi ở khu vực bàn gỗ trên sàn nhà, sau đó C bảo C1 “anh xuống ngồi chơi”, C1 đồng ý xuống chỗ C và H1 đang ngồi, Công châm lửa mời C1 và H1 cùng sử dụng ma túy. Khi C, C1, H1 sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an phường K kiểm tra căn nhà trọ phát hiện thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tại gầm giường chỗ T nằm ngủ. Ngoài ra còn thu giữ trên nền nhà vệ sinh 01 túi nilon màu trắng, mép viền xanh kích thước 02 x 2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng Công an đã dẫn giải C1, C, T, H1 cùng vật chứng về trụ sở Công an phường.

Nguyễn Sơn H1 khai: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/01/2024 H1 đến nhà T thì gặp T đang nằm trên giường, C1 đang ngồi trên giường sát cửa ra vào chơi điện thoại còn C đang ngồi trên chiếu dưới đất. H1 nhìn thấy có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trong có sẵn ma túy đá và 01 túi nilon viền màu xanh bên trong có chứa ma túy đá. C mời H1 sử dụng ma túy đá 03 lần đến lần thứ ba thì H1 đồng ý ngồi xuống cạnh bình chứa ma túy đá cầm vòi hút bằng tay trái đưa lên miệng để C châm lửa cho Hà hút, lúc này C lại gọi C1 xuống cùng sử dụng ma túy đá. Khi khi cả ba sử dụng xong thì bị lực lượng Công an phường K kiểm tra căn nhà trọ phát hiện thu giữ các vật chứng như lời khai của C1. Sau đó lực lượng Công an đã dẫn giải C1, C, T, H1 cùng tang vật về trụ sở Công an phường. Trịnh Văn Đ khai: Đồng không có mối quan hệ quen biết gì với T, C, C1, H1 và cũng không cung cấp ma túy cho bất kỳ ai cùng sử dụng.

Đối với hành vi cung cấp ma túy của Trịnh Văn Đ cho các đối tượng Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C1 sử dụng trái phép tại căn nhà T ở tại ngõ C N, phường K, quận L, Hải Phòng (theo lời khai của T, C1). Quá trình điều tra Trịnh Văn Đ khai không quan hệ quen biết với Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C1, Đ chưa bao giờ mang ma túy đến địa điểm nhà 393 để sử dụng cùng T, C1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã cho các đối tượng Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C1 nhận dạng, đối chất với Trịnh Văn Đ. Kết quả Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C1 nhận dạng được Trịnh Văn Đ nhưng không nhớ cụ thể thời gian sử dụng ma túy cùng nhau, kết quả đối chất các đối tượng vẫn giữ nguyên lời khai như trên. Ngoài lời khai của T và C1 (nhưng không rõ cụ thể thời gian và không thống nhất về thành phần tham gia) không còn tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện Đ có hành vi đến nhà T cung cấp ma túy cho T, C1 sử dụng trái phép. Ngày 25/3/2024, Trịnh Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra quyết định khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy trong vụ án khác. Hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tách hành vi của Đ để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý khi có căn cứ.

Đối với Nguyễn Sơn H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà T ở ngõ C N, phường K, quận L vào sáng ngày 08/01/2024. Công an quận L, Hải Phòng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Văn C1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà T nhiều lần. Công an quận L đã chuyển hồ sơ tài liệu liên quan đến Công an phường K để lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 05/2/2024, Tòa án nhân dân quận Lê Chân đã ra Quyết định số 06/QĐ-TA, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C1, trong thời hạn 18 tháng. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát bổ sung cáo trạng đối với dấu hiệu đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” của Nguyễn Văn C1, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý hình sự sẽ lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02 x 2,5cm bên trong chứa 0,11 gam ma túy Methamphetamine thu giữ tại nền nhà tắm trong nhà T. Quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nguồn gốc, mục đích và đối tượng cất giấu. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra Quyết định tách tài liệu, vật chứng để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý.

Bản Cáo trạng số 242/CT-VKS ngày 13/09/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh C và Đỗ Thị T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Thị Thanh mức án từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và Nguyễn Minh C mức án từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Các bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 8x4cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đổ kích thước 8x10cm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu đỏ đựng 01 túi nilon màu trắng xanh kích thước12x10cm bên trong có 01 túi nilon màu trắng được hàn kín kích thước 5x4cm đựng tinh thể màu trắng; 01 bật lửa; 01 áo khoác màu đen; trả lại 01 chiếc điện thoại OPPO cho Đỗ Thị T và trả lại 01 chiếc điện thoại Redmi cho Nguyễn Minh C.

  • Về án phí: Các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • - Về tố tụng:

  • [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  • Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát bổ sung cáo trạng đối với hành vi của Nguyễn Văn C1 có dấu hiệu đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất mat tuý”. Xét việc bổ sung cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Toà án sẽ kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận L tiếp tục làm rõ hành vi của Nguyễn Văn C1.

  • - Về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”:

  • [2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện:

  • Đầu tháng 01/2024, Đỗ Thị T có hành vi cung cấp địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy đá cho Nguyễn Văn C1. Ngày 05/01/2024 Đỗ Thị T có hành vi cung cấp địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy đá cho Nguyễn Minh C và Nguyễn Văn C1; Nguyễn Minh C có hành vi cung cấp ma tuý đá cho Nguyễn Văn C1 và Đỗ Thị T. Ngày 07-08/01/2024, Đỗ Thị T có hành vi cung cấp địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy đá cho Nguyễn Minh C, Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Sơn H1; Nguyễn Minh C có hành vi cung cấp ma tuý đá cho Nguyễn Văn C1, Nguyễn Sơn H1 sử dụng ma túy tại căn nhà trọ thuộc ngõ C N, phường K, quận L, Hải Phòng.

  • Hành vi của Đỗ Thị T và Nguyễn Minh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điều 255 Bộ luật Hình sự.

  • Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo T và C đều thực hiện hành vi trên nhiều lần và với nhiều người nên cả hai bị cáo đều phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm a “Phạm tội 02 lần trở lên” và điểm b “Đối với 02 người trở lên” khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

  • Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

  • [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị

an xã hội. Cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • [4] Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  • - Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [5] Nhân thân các bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn nên xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • - Về vai trò và hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:

  • Bị cáo T là người thực hành tích cực, chuẩn bị địa điểm là nhà của mình thuê, chuẩn bị công cụ, phương tiện phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma tuý, vì vậy bị cáo Thanh giữ vai trò chính trong đồng phạm. Bị cáo C thực hiện hành vi cung cấp ma tuý, châm lửa và đưa cho các đối tượng khác sử dụng, vì vậy bị cáo Công giữ vai trò thứ yếu trong đồng phạm. Do đó, hình phạt của bị cáo Thanh C2 hơn bị cáo C.

  • - Về hình phạt bổ sung:

  • [6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Các bị cáo đều không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  • - Về xử lý vật chứng:

  • [7] Đối với 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 34MT/PC09; 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 34MT-A/PC09; 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 2381/KL-KTHS; 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 8x4cm và 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 8x10cm; 01 bật lửa; 01 chiếc áo khoác màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm bình thuỷ tinh có gắn nắp chai, ống hút xét là công cụ phương tiện phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

  • [8] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của Đỗ Thị T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi thu giữ của Nguyễn Minh C xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sử trả lại cho các bị cáo.

  • - Về án phí:

  • [9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

  • - Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị T, Nguyễn Minh C đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

  • - Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thanh 8 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/01/2024.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 7 (bảy) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.

  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 34MT/PC09; 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 34MT-A/PC09; 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 2381/KL-KTHS; 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 8x4cm và 01 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 8x10cm; 01 bật lửa; 01 chiếc áo khoác màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm bình thuỷ tinh có gắn nắp chai, ống hút.

  • Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ số IMEI: 86863047547694 và trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C, số IMEI: 867243069774246.

  • (Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 13/09/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Minh C và Đỗ Thị T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  • - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  • Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L tiếp tục xác minh làm rõ dấu hiệu đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” của Nguyễn Văn C1, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú;

  • - VKSND thành phố;

  • - VKSND quận Lê Chân;

  • - Công an quận Lê Chân;

  • - THA hình sự;

  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;

  • - Sở tư pháp;

  • - Trại tạm giam CA tp Hải Phòng;

  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 222/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger