Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 222/2024/KDTM-ST

Ngày: 17-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Hữu Phước;
  2. Bà Lâm Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2024/TLST-KDTM ngày 09 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 789/2024/QĐXXST-KDTM ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N1; trụ sở: 02 L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; địa chỉ chi nhánh: A L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phan Trung K – sinh năm 1984 (theo Giấy ủy quyền ngày 15/12/2022).

  2. Bị đơn: Công ty TNHH X; trụ sở: 3/330 Dương Công K1, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Bảo N - sinh năm 1992; địa chỉ: Lầu A, số B T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 20/8/2022).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hồ Lê Khánh D, sinh năm 1984; Địa chỉ: tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Ông Bùi Hoàng H, sinh năm 1984; địa chỉ: A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 16/11/2022).

  2. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1991;
  3. Bà Nguyễn Trương Bảo T, sinh năm 1993;

Cùng địa chỉ: thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 31/12/2020, Ngân hàng N1 (sau đây gọi tắt là ngân hàng H3) Chi nhánh T2 và Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là Công ty X) ký hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000729 với nội dung cơ bản như sau:

  • Số tiền cho vay: 63.000.000.000 đồng.
  • Lãi suất cho vay trong hạn: 8,5%/năm.
  • Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
  • Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh nông sản.
  • Thời hạn cho vay: 12 tháng.

Sau khi giải ngân, bị đơn liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Do đó ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn chịu trách nhiệm trả các khoản nợ sau:

  • Nợ gốc: 61.510.000.000 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn: 3.181.415.164 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 890.024.055 đồng;
  • Tổng cộng: 65.581.439.219 đồng.

Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì H3 thông qua H3 Chi nhánh T2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý các tài sản bảo đảm của bà Hồ Lê Khánh D, ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Trương Bảo T đã thế chấp theo các hợp đồng thế chấp số 6360-LCL-201900439 ngày 22/5/2019, số 6360-LCL-201900438 ngày 22/5/2019, số 6360-LCL-201900437 ngày 22/5/2019, số 6360-LCL-202100023 ngày 12/01/2021 để thu hồi nợ cho Ngân hàng, bao gồm:

  • Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 257, 263, 277, tờ bản đồ số 28 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu của bà Hồ Lê Khánh D;
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 98, 99, 100, 101, 102, 103, 105, tờ bản đồ số 4 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu của bà Hồ Lê Khánh D;
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 251, 269, 270, 279, 280, 308, tờ bản đồ số 12 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, thuộc quyền sở hữu của bà Hồ Lê Khánh D;
  • Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 574, 578, 579, 581, 583 tờ bản đồ số 91 địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu của ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Trương Bảo T.

Phía bị đơn - Công ty X có bà Nguyễn Bảo N là người đại theo ủy quyền trình bày: Phía bị đơn thừa nhận có ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và đã được nhận giải ngân như nguyên đơn trình bày. Do hiện nay tình hình tài chính của Công ty đăng gặp khó khăn nên bị đơn đề nghị phía ngân hàng hỗ trợ giảm lãi và giãn thời gian để bị đơn có thể thanh toán dần công nợ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Hồ Lê Khánh D do ông Bùi Hoàng H làm đại diện theo ủy quyền, ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Trương Bảo T đều không có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời có đơn đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Công ty X phải có nghĩa vụ hoàn trả ngay toàn bộ số nợ vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký, tạm tính đến ngày 17/9/2024 là 85.532.856.370 đồng, trong đó:

  • Nợ gốc: 61.480.000.000 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn: 17.386.072.329 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 6.666.784.041 đồng.

Công ty X còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Trường hợp, Công ty X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Bà Nguyễn Bảo N là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - Công ty X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ông Bùi Hoàng H là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Hồ Lê Khánh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Trương Bảo T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Kiến nghị Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn vị xét xử vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng N1 và Công ty TNHH X có ký kết hợp đồng tín dụng có tài sản đảm bảo; bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bên vay thanh toán. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại đơn đề nghị ngày 31/3/2022, nguyên đơn xác định hợp đồng tín dụng và quá trình giải ngân đều thực hiện tại H3 – chi nhánh T2 có địa chỉ tại quận T nên nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân quận Tân Bình để giải quyết vụ án. Xét việc lựa chọn của nguyên đơn phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bị đơn - Công ty TNHH X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Hồ Lê Khánh D, ông Trần Văn H1, bà Nguyễn Trương Bảo T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn:

[2.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 17/9/2024 là 85.532.856.370 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000729 ngày 31/12/2020, các Giấy nhận nợ số 6360-LDS-202100159, 6360-LDS-202100269, 6360-LDS-202100315, 6360-LDS-202100336, 6360-LDS-202100346, 6360-LDS-202100367, 6360-LDS-202100377 cùng ngày 31/12/2020 mà các bên đã ký kết, thể hiện bị đơn đã được Ngân hàng giải ngân số tiền 61.510.000.000 đồng,

Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, phía Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, trực tiếp làm việc yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ nhưng bị đơn vẫn cố tình không thực hiện. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản khác có liên quan cho bị đơn nhưng bị đơn và người đại diện theo ủy quyền không có ý kiến tranh chấp hay phản đối. Mặt khác, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng thừa nhận có việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, nhận nợ như phía nguyên đơn trình bày và xin thời hạn 06 tháng để thu xếp trả nợ. Như vậy, có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc của các hợp đồng tín dụng nêu trên là 61.480.000.000 đồng và tiền nợ lãi (gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn) là 24.022.856.370 đồng như nguyên đơn trình bày. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số công nợ còn thiếu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ: Xét thấy yêu cầu này là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận đã ký kết giữa các bên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về phương thức và thời hạn thanh toán: Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị đơn trả một lần toàn bộ tiền nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật như phía nguyên đơn yêu cầu.

[2.4] Về yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn:

Căn cứ vào nội dung của các hợp đồng thế chấp số: 6360-LCL-201900439 ngày 22/5/2019, 6360-LCL-201900438 ngày 22/5/2019, 6360-LCL-201900437 ngày 22/5/2019, 6360-LCL-202100023 ngày 12/01/2021 mà các bên đã ký kết. Nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp, bao gồm:

  • Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 257, 263, 277, tờ bản đồ số 28 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu của bà Hồ Lê Khánh D (theo các giấy chứng nhận số: CP 709751 số vào sổ cấp GCN CH 04494 cấp ngày 02/4/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CM 472715 số vào sổ cấp GCN CH 08719 cấp ngày 11/4/2018, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CM 472716 số vào sổ cấp GCN CH 08720 cấp ngày 11/4/2018, cập nhật biến động ngày 22/5/2019);
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 98, 99, 100, 101, 102, 103, 105, tờ bản đồ số 4 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu của bà Hồ Lê Khánh D (theo các giấy chứng nhận số: CP 709931 số vào sổ cấp GCN CH 04509 cấp ngày 11/4/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 709929 số vào sổ cấp GCN CH 04507 cấp ngày 11/4/2019 cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 709930, số vào sổ cấp GCN CH 04508 cấp ngày 11/4/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 709926 số vào sổ cấp GCN CH 04504 cấp ngày 11/4/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 709928 số vào sổ cấp GCN CH 04506 do cấp ngày 11/4/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 709927 số vào sổ cấp GCN CH04505 do cấp ngày 11/4/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 709752 số vào sổ cấp GCN CH 04495 cấp ngày 11/4/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019);
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 251, 269, 270, 279, 280, 308, tờ bản đồ số 12 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu của bà Hồ Lê Khánh D (theo các gấy chứng nhận số: CN 367828 số vào sổ cấp GCN CH09216 cấp ngày 06/8/2018, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CK 785409 số vào sổ cấp GCN CH 07908 cấp ngày 08/01/2018 cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 737692 số vào sổ cấp GCN CS 00960 cấp ngày 03/5/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CM 472156 số vào sổ cấp GCN CH 08138 do cấp ngày 26/3/2018, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CM 472157 số vào sổ cấp GCN CH 08139 cấp ngày 26/3/2018, cập nhật biến động ngày 22/5/2019; CP 737693 số vào sổ cấp GCN CS 00961 cấp ngày 03/5/2019, cập nhật biến động ngày 22/5/2019);
  • Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 574, 578, 579, 581, 583 tờ bản đồ số 91 địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu của ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Trương Bảo T (theo các giấy chứng nhận số: CX 291409 số vào sổ cấp GCN CS 04567 cấp ngày 17/7/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2021; CX 291418 số vào sổ cấp GCN CS 04574 cấp ngày 17/7/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2021; CX 291412 số vào sổ cấp GCN CS 04570 cấp ngày 17/7/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2021; CX 291413 số vào sổ cấp GCN CS 04571 cấp ngày 17/7/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2021; CX 291421 số vào sổ cấp GCN CS 04577 cấp ngày 17/7/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2021).

Xét các tài sản thế chấp đều được thực hiện theo đúng quy định pháp luật về thế chấp (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì nghĩa vụ đảm bảo của người thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật; những người có tài sản thế chấp cũng không có ý kiến tranh chấp hay phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp nêu trên của nguyên đơn.

[3] Như đã nhận định trên Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí, chi phí tố tụng:

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 85.532.856.370 đồng phải trả cho nguyên đơn. Án phí bị đơn phải chịu là 193.532.856 đồng. H2 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Áp dụng Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền này nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 299, 320, 322, 323, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng N1:

1.1. Buộc Công ty TNHH X có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1 số tiền nợ tạm tính đến ngày 17/9/2024 là 85.532.856.370 (T1 mươi lăm tỷ, năm trăm ba mươi hai triệu, tám trăm năm mươi sáu ngàn, ba trăm bảy mươi) đồng, bao gồm nợ gốc là 61.480.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 17.386.072.329 đồng và nợ lãi quá hạn là 6.666.784.041 đồng, để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202000729 ngày 31/12/2020 và các giấy nhận nợ mà các bên đã ký kết.

Phương thức và thời hạn thanh toán:

Thanh toán một lần toàn bộ số tiền trên, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 18/9/2024, Công ty TNHH X còn phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ.

1.2. Trường hợp Công ty TNHH X không thanh toán được số nợ nói trên, Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản đã thế chấp sau đây để thu hồi nợ:

  • Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 257, 263, 277, tờ bản đồ số 28 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa đứng tên bà Hồ Lê Khánh D (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-201900439 ngày 22/5/2019);
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 98, 99, 100, 101, 102, 103, 105, tờ bản đồ số 4 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa đứng tên bà Hồ Lê Khánh D (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-201900438 ngày 22/5/2019);
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 251, 269, 270, 279, 280, 308, tờ bản đồ số 12 tại thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, đứng tên bà Hồ Lê Khánh D (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-201900437 ngày 22/5/2019);
  • Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 574, 578, 579, 581, 583 tờ bản đồ số 91 địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa đứng tên ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Trương Bảo T (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-202100023 ngày 12/01/2021).

Khi Công ty TNHH X thanh toán hết số nợ trên thì Ngân hàng N1 có nghĩa vụ hoàn trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm cho bên thế chấp.

Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn phần nghĩa vụ bảo đảm thanh toán nợ của Công ty TNHH X đối với Ngân hàng N1 thì Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán tiếp số tiền còn thiếu.

Trường hợp nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi lớn hơn phần nghĩa vụ bảo đảm thanh toán nợ của Công ty TNHH X đối với Ngân hàng N1 thì hoàn trả phần giá trị chênh lệch cho bên thế chấp, nếu tài sản thế chấp không bảo đảm cho nghĩa vụ khác.

2. Về chi phí tố tụng và án phí:

- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng do Công ty TNHH X chịu. Công ty TNHH X có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng.

- Công ty TNHH X phải chịu án phí sơ thẩm là 193.532.856 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu, năm trăm ba mươi hai ngàn, tám trăm năm mươi sáu) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 86.790.720 (Tám mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi ngàn, bảy trăm hai mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031354 ngày 28/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2024/KDTM-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 222/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N1 với Công ty TNHH X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger