|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 222/2023/HS-ST.
Ngày: 31/10/2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Lê Thị Ánh Sáng.
+ Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Huy, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 211/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Hồ Quốc D, sinh năm 1990. Tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi đăng ký thường trú: số A, ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Hồ Văn T và bà Dương Thị Hồng N.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ con.
Tiền án:
Ngày 10/6/2021, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 04/11/2021, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo D phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/5/2023.
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam ngày 15/7/2023.
(bị cáo có mặt).
Bị hại:
Chị Nguyễn Huỳnh Thị M, sinh năm: 1993.
Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 08/07/2023, Hồ Quốc D đang ở phòng trọ tại ấp E, xã A, huyện L thì có một người thanh niên tên thường gọi là “Cu” (không rõ nhân thân, lý lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội đến rủ D đi uống cà phê, D đồng ý. Khoảng 10 phút sau, “Cu” điều khiển xe Wave, màu trắng (không rõ biển số) đến chở D đi uống cà phê tại ngã ba S thuộc xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong lúc uống cà phê thì “Cu” rủ D đi trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài, D đồng ý. Để thực hiện ý định, “Cu” điều khiển xe mô tô của C (không rõ biển số) chở D đến khu vực xã A để tìm xe mô tô trộm cắp, trên đường đi “Cu” đưa cho D 01 đoản phá khóa xe một đầu hình lục giác 8, một dầu dẹp và 01 khóa 8 hình chữ “L” nối vào đầu lục giác. “Cu” điều khiển xe chở D đến cổng dãy phòng trọ của anh Đoàn Văn D1 ở ấp E, xã A, huyện L thì “Cu” ngồi ngoài đợi sẵn còn D cầm đoản phá khóa đi vào trước cửa phòng trọ số 12 thì thấy xe mô tô biển số 60C1-329.87 nhãn hiệu Wave alpha 110 màu đen của chị Nguyễn Huỳnh Thị Minh d trước của phòng trọ, D liền dùng đoản phá khóa mang theo bẻ khóa và đẩy xe đi bộ ra gần cổng phòng trọ và lên xe nổ máy chạy ra ngoài đường và cùng “Cu” đi đến khu vực cổng bò sữa L thì D giao lại các đoản phá khóa xe trên và xe mô tô biển số 60C1-329.87 cho “Cu” đi bán, khoảng 40 phút sau thì “Cu” quay lại nói bán xe được 3.000.000đồng, "Cu" chia cho D được 1.100.000đồng còn “Cu” giữ lại số tiền 1.900.000đồng, D đưa xe mô tô (không rõ biển số) cho “Cu” đi về.
Đến ngày 15/7/2023, nhận thấy hành vi trộm cấp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nên D đến Công an xã A đầu thú.
Vật chứng vụ án:
+ 01 (một) áo sơ mi màu đen sọc trắng, tay dài; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có hai sọc màu hồng; 01 (một) quần jean lửng màu xanh của Hồ Quốc D.
+ Số tiền 4.900.000đồng của Hồ Quốc D (trong đó có số tiền 1.100.000đồng có được từ hành vi phạm tội và số tiền 3.800.000 đồng là tiền cá nhân).
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, đã qua sử dụng của Hồ Quốc D.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định: 01 xe mô tô biển số 60C1-329.87 nhãn hiệu Wave alpha 110 màu đen. Mua năm 2021 đã qua sử dụng có giá trị 7.250.000đồng.
Tại bản Cáo trạng số 192/CT-VKS-LT ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Hồ Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản Cáo trạng số 192/CT-VKSLT ngày 18 tháng 09 năm 2023 và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Quốc D mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù.
Đề nghị về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Hồ Quốc D phải bồi thường cho chị Nguyễn Huỳnh Thị M số tiền 7.250.000đồng
Đề nghị xử lý vật chứng:
Đề nghị tuyên trả cho bị cáo D 01 (một) áo sơ mi màu đen sọc trắng, tay dài; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có hai sọc màu hồng; 01 (một) quần jean lửng màu xanh của Hồ Quốc D do không liên quan đến tội phạm.
Đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng do phạm tội mà có.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 3.800.000đồng của Hồ Quốc D xét không liên quan đến tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo D.
Đối với người đàn ông tên C cùng với bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hiện chưa xác định tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Hồ Quốc D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 08/07/2023, Hồ Quốc D đang ở phòng trọ tại ấp E, xã A, huyện L thì có một người thanh niên tên thường gọi là “Cu” rủ D đi uống cà phê. Trong lúc uống cà phê thì “Cu” rủ D đi trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài, D đồng ý. “Cu” điều khiển xe mô tô của C (không rõ biển số) chở D đến khu vực xã A để tìm xe mô tô trộm cắp, trên đường đi “Cu” đưa cho D 01 đoản phá khóa xe một đầu hình lục giác 8, một dầu dẹp và 01 khóa 8 hình chữ “L” nối vào đầu lục giác. Khi “Cu” điều khiển xe chở D đến cổng dãy phòng trọ của anh Đoàn Văn D1, “Cu” ngồi ngoài đợi sẵn còn D cầm đoản phá khóa đi vào trước cửa phòng trọ số 12 bẻ khoá chiếm đoạt của chị Nguyễn Huỳnh Thị M xe mô tô biển số 60C1-329.87 nhãn hiệu Wave alpha 110 màu đen. Đến ngày 15/7/2023, D đến Công an xã A đầu thú.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định: 01 xe mô tô biển số 60C1-329.87 nhãn hiệu Wave alpha 110 màu đen. Mua năm 2021 đã qua sử dụng có giá trị 7.250.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo D không thắc mắc gì với Kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 115/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L.
Hành vi trên của bị cáo Hồ Quốc D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tác động xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Bị cáo D đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo rất xem thường pháp luật và đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo D theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị M là 01 xe mô tô biển số 60C1-329.87 nhãn hiệu Wave alpha 110 màu đen, không thu hồi được, chị M có yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị M số tiền thiệt hại 7.250.000đồng. Xét yêu cầu bồi thường của chị M là chính đáng cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị M số tiền trên.
[6]. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên trả cho bị cáo D 01 (một) áo sơ mi màu đen sọc trắng, tay dài; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có hai sọc màu hồng; 01 (một) quần jean lửng màu xanh của Hồ Quốc D do không liên quan đến tội phạm (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 19/9/2023)
Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng do phạm tội mà có (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo giấy nộp tiền mặt 39490103637100000 ngày 25/9/2023 tại kho bạc Nhà nước huyện L)
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 3.800.000đồng của Hồ Quốc D xét không liên quan đến tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo D là đúng theo quy định pháp luật.
[7] Ngoài ra, đối với người đàn ông tên C đã cùng với bị cáo D trộm cắp tài sản hiện chưa xác định tên, tuổi, địa chỉ cụ thể Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 362.500 án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Hồ Quốc D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 15/7/2023.
Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Hồ Quốc D phải bồi thường cho chị Nguyễn Huỳnh Thị M số tiền 7.250.000đồng (bảy triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày chị M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu D chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vược quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 362.500đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên trả cho bị cáo D 01 (một) áo sơ mi màu đen sọc trắng, tay dài; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có hai sọc màu hồng; 01 (một) quần jean lửng màu xanh.
Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm ngàn đồng).
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND H. Long Thành (1); - Công an H. Long Thành (3); - Chi cục THADS H. Long Thành (1); - Bị cáo, Bị hại (2); - Lưu (1). |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hùng Minh Sang |
Bản án số 222/2023/HS-ST ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 222/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
