TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 222/2024/HS - ST Ngày 17 - 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lò Thị Ánh Ngọc
Bà Nguyễn Thị Phương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 237/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Th. Tên gọi khác: Không có. Sinh năm 1978
Tại: Điện Biên
Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn L (đã chết) và con bà Lò Thị N: Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 09/3/2006, bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích; Ngày 07/11/2012, bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hai bản án đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 29/6/2024 đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 50 phút ngày 29/6/2024, tổ công tác Công an xã Hẹ Muông, huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã Pom Lót, huyện Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực bản Pom Lót, xã Pom Lót, huyện Điện Biên đã phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của Lò Văn Th đang cầm 01 gói nilon màu xanh bên trong có 03 viên nén màu hồng nghi Methamphetamine. Lò Văn Th khai nguồn gốc 03 viên nén màu hồng bị thu giữ là do Th mua của một người phụ nữ Th không biết tên và địa chỉ vào khoảng 17 giờ ngày 29/6/2024 với giá 100.000 đồng. Mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Mua xong, Th cầm trên tay phải rồi đi bộ về. Khi Th đang đi bộ đến khu vực bản Pom Lót, xã Pom Lót, huyện Điện Biên thì tổ công tác phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu ngày 29/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản Kết luận giám định số 1181/KL - KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn Th 0,3 gam là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 182/CT-VKSHĐB ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,3 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,22 gam sau khi giám định) và 01 mảnh nilon màu xanh.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 17 giờ 50 phút ngày 29/6/2024, tổ công tác Công an xã Hẹ Muông, huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã Pom Lót, huyện Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực bản Pom Lót, xã Pom Lót, huyện Điện Biên đã phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của bị cáo Lò Văn Th đang cầm 01 gói nilon màu xanh bên trong có 03 viên nén màu hồng nghi Methamphetamine. Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo là Methamphetamine có khối lượng 0,3 gam. Bị cáo khai mục đích cất giấu Methamphetamine là để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.
[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Ngày 09/3/2006, bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Ngày 02/11/2006, bị cáo chấp hành xong hình phạt; Ngày 07/11/2012, bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 16/3/2015, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án trên. Bị cáo đã được xóa án tích.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, bố đẻ của bị cáo là ông Lò Văn Lả được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
[4] Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người đã từng bị kết án, nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố tình vi phạm nên cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân không có việc làm, tài sản không có nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Vật chứng: Gồm 0,3 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,22 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu xanh không có giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người, bị cáo không biết địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 29/6/2024).
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu tiêu huỷ 0,3 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,22 gam sau khi giám định) và 01 mảnh nilon màu xanh.
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 29/8/2024
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/9/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dương |
Bản án số 222/2024/HS - ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 222/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo có hành vi TTTPCMT để sử dụng cho bản thân
