Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2023/HS-ST

Ngày: 11-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Viện và ông Nguyễn Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Bà Vi Phương Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường tầng 2, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2023/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Văn H. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 25 tháng 11 năm 1969 tại Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Xóm Q, xã S, thành phố T, tỉnh T.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Chu Văn H, đã chết; và bà Trần Thị B, đã chết; Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy. Vợ: Lê Thị T1, đã ly hôn và có 01 con sinh năm 1995 đã chết. Tiền án, tiền sự: Không có

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên toà.

* Người tham gia tố tụng khác:

  • - Người chứng kiến: Anh Phạm Văn K. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 10/6/2023, tổ công tác Công an xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên đang tuần tra kiểm soát khu vực thuộc xóm Đồng Danh, xã Sơn Cẩm thì phát hiện một người đàn ông đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai họ tên là Chu Văn H và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ túi quần phía sau bên phải H đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và khai nhận là ma túy Heroine, H vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định: Toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của H có khối lượng 0,253 gam, lấy toàn bộ đưa vào phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 800/KL-KTHS ngày 18/6/2023 của Phòng kỹ thuật thình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,253 gam.

Quá trình điều tra, làm rõ hành vi của bị cáo như sau: Do bản thân nghiện ma túy, khoảng 06 giờ ngày 10/6/2023, H đi bộ từ nhà đến khu vực đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine được bọc gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng, với số tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi H đi đến khu vực thuộc xóm Đồng Danh, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Công an xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Chu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 bì niêm phong ký hiệu H1, H2. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên

Cáo trạng số 217/CT-VKSTPTN ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Chu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 BLHS.
  • - Xử phạt bị cáo Chu Văn H từ 18 đến 24 tháng tù.
  • - Phạt bổ sung: Không áp dụng.
  • - Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
  • - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  • - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của người này, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt; việc Tòa án xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng này theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn H khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận giám định; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Sơ đồ hiện trường; lời khai của người chứng kiến cùng vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:

Hồi 06 giờ 40 phút ngày 10/6/2023, Chu Văn H đã có hành vi tàng trữ 0,253 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi H đang trên đường đi tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Chu Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • a, ...
  • c, Heroine,..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người nghiện ma túy.

[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

[7] Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[9] Về vật chứng: 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa 0,240 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu. Xét thấy đây là vật liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà về điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.

Đối với số ma túy bị thu giữ, Chu Văn H khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý nên không xem xét.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106, 136, 292, 293, 299, 329, 331, 333 BLTTHS 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt: Bị cáo Chu Văn H 18 (mười tám) tháng tù.
  2. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2023.

    Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa 0,240 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
  5. Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 385 ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa Công an Thành phố Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  6. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
  7. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Xuân Viện – Nguyễn Quang Huy

Phạm Ngọc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 222/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger