Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-7-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Quế Anh
  • 2. Ông Trần Mai Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên; Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tô H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Xóm T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim S, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Lô A, KQH Đ, N đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).

- Bị đơn: Anh Bùi Anh T, sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại Hàn Quốc. Vắng mặt (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2023, Bản tự khai ngày 31/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Tô H trình bày:

Chị và anh Bùi Anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, vào ngày 23/07/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Đ, Nghệ An. Chị và anh Bùi Anh T là bạn bè học cùng nhau, anh Bùi Anh T thì học Trường Cao đẳng K (nay là Đại học K1), còn chị học đại học, sau khi học xong 3 năm cao đẳng thì năm 2007 anh T đi lao động ở Hàn Quốc, tháng 7/2010 anh T về nước và cùng chị tổ chức cưới và đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chị sống cùng với bố mẹ anh T và anh T sống cùng với chị được 1 tháng (tổng thời gian anh về phép là một tháng rưỡi), rồi anh T quay lại Hàn Quốc làm việc, tháng 4/2011 chị sinh con gái. Sau khi sinh con gái được hai tháng thì chị xin phép bố mẹ chồng cho hai mẹ con về ngoại sống để tiện chăm sóc và hai mẹ con chị sống với bố mẹ đẻ của chị từ đó đến nay. Năm 2012 chị đi sang thăm chồng được ba ngày (chị đi du lịch sau đó tách đoàn để gặp chồng), sau đó vợ chồng chị vẫn liên lạc bình thường đến năm 2015 thì chị và anh T không còn liên lạc với nhau và chị được biết anh T đã có người phụ nữ khác. Hiện nay, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên chị đã viết đơn đề nghị quý tòa cho chị được ly hôn anh Bùi Anh T.

Về con chung: Chị và anh Bùi Anh T có con chung là cháu Bùi Hoài A, sinh ngày 23/04/2011. Cháu A ở cùng chị từ nhỏ cho đến nay. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà bị đơn là anh Bùi Anh T vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 752/QLXNC-P3 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Cục Q – Bộ C1 thì: “Trường hợp Bùi Anh T, sinh ngày 03/3/1983 tại Nghệ An, CMND số [...]; khai hộ khẩu thường trú tại: Y, Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu số B4365331 để xuất cảnh ngày 05/9/2010 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh T ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh T vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại “Biên bản xác minh" ngày 30/5/2024 ông Bùi Hữu C và bà Phạm Thị T1 (bố, mẹ đẻ anh Bùi Anh T) trình bày: Năm 2010, anh Bùi Anh T kết hôn với chị Trần Thị Tô H. Năm 2011, anh T, chị H sinh cháu Bùi Hoài A. Chị H kết hôn với anh T được 02 tháng thì viết thư chửi bới các thành viên trong gia đình anh T. Sau khi sinh con được 02 tháng thì chị H tự ý bồng con về bên ngoại sinh sống, từ đó đến nay đã 13 năm, chị H không hề liên lạc gì với gia đình bên nội cũng không cho cháu thăm gặp gì ông bà nội. Vì vậy, việc ly hôn giữa chị H và anh T không liên quan đến ông bà. Còn về phần anh T (con trai ông bà) đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ năm 2007 đến năm 2010 về phép kết hôn với chị H. Sau đó lại tiếp tục sang Hàn Quốc xuất khẩu lao động. Quá trình xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, anh T vẫn thường xuyên liên hệ với ông bà để hỏi thăm tình hình sức khỏe cũng như các công việc khác trong gia đình. Tuy nhiên, mới gần đây anh T không liên hệ với ông bà nữa nên ông bà không biết địa chỉ nơi cư trú hoặc làm việc hiện nay của anh T để cung cấp cho Tòa án. Còn về việc ly hôn giữa chị H và anh T thì nguyện vọng của ông bà là chờ anh T về nước thì chị H mới giải quyết ly hôn được vì khi kết hôn có anh T và chị H thì khi ly hôn cũng phải có hai người. Nếu trường hợp chị H cương quyết ly hôn thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, còn khi anh T liên hệ về thì ông bà có thông báo về việc chị H xin ly hôn và tùy anh T quyết định, ông bà không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Trần Thị Tô H được ly hôn anh Bùi Anh T.
  • + Về con chung: Giao cháu Bùi Hoài A, sinh ngày 23/4/2011 cho chị Trần Thị Tô H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Bùi Anh T do chị H chưa có yêu cầu.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
  • + Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Tô H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 11/9/2023 chị Trần Thị Tô H có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Bùi Anh T. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Trần Thị Tô H và anh Bùi Anh T đều có nơi đăng ký thường trú tại xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An nhưng anh T đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ năm 2006 đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Bùi Anh T mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Anh T hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh T tại nước ngoài nhưng theo ông Bùi Hữu C và bà Phạm Thị T1 (bố mẹ đẻ của anh T) thì anh T có liên lạc về với gia đình nhưng anh T vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Bùi Anh T.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Tô H:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị Tô H và anh Bùi Anh T được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, từ năm 2015 vợ chồng đã xẩy ra mâu thuẫn và không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, anh T lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài, anh T đã đi xuất khẩu lao động nhiều năm nay, cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị H cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị H và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Trần Thị Tô H và anh Bùi Anh T có một con chung là cháu Bùi Hoài A, sinh ngày 23/4/2011. Từ trước tới nay cháu A đang do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu anh Bùi Anh T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, yêu cầu được nuôi con của chị H là hoàn toàn chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu A. Mặt khác, anh T đang ở nước ngoài, ông C, bà T1 (bố, mẹ đẻ anh T) không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh T tại nước ngoài và anh T cũng không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn, nuôi con chung với chị H. Vì vậy, cần giao cháu A cho chị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh T cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Tô H được ly hôn với anh Bùi Anh T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Bùi Hoài A, sinh ngày 23/4/2011 cho chị Trần Thị Tô H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Trần Thị Tô H không yêu cầu và anh Bùi Anh T chưa có ý kiến nên Toà án chưa xem xét.

Anh Bùi Anh T có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Bùi Anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Tô H và anh Bùi Anh T không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Trần Thị Tô H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0012745 ngày 25/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Trần Thị Tô H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Bùi Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Yên Sơn, huyện Đô Lương
  • (theo Giấy ĐKKH số 21/2010 ngày 23/7/2010);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 222/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn giữa chị H và anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger