|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 222/2024/DS-ST Ngày: 08 - 7 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thành Thật
- Ông Võ Thanh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều D - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 131/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 359/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 367/2024/QÐST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Ngân hàng N1 (A);
Trụ sở: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ/chức danh: tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Hữu H, chức vụ/chức danh: Giám đốc Chi nhánh thành phố L, Ngân hàng N1 Chi nhánh thành phố L, An Giang
Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Đặng Thanh T, chức vụ/chức danh:
Giám đốc Phòng G Chi nhánh thành phố L, tỉnh An Giang
Nơi làm việc: Số D - 44 - 46 đường H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1985;
Cư trú: Số H đường B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, bà Đặng Thanh T vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, bà Nguyễn Thị Ngọc O vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
A Chi nhánh thành phố L và bà Nguyễn Thị Ngọc O đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo; đồng thời ký kết Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020, Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020, để bà O vay vốn tại A. Cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021: Số tiền hạn mức cho vay là 5.400.000.000 đồng, thời hạn duy trì hạn mức là: 12 tháng kể từ ngày ký kết Hợp đồng tín dụng này, thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ: Theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ, lãi suất cho vay tại thời điểm ký Hợp đồng hạn mức là 9%/năm, điều chỉnh định kỳ tối thiểu 03 tháng/lần, mục đích vay để nuôi cá lóc. Sau đó thì giữa Ngân hàng và bà O có ký kết Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021 để giảm hạn mức cho vay xuống còn 2.400.000.000 đồng và rút bớt tài sản thế chấp. Ngân hàng và bà O có ký kết Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022 để giảm hạn mức cho vay xuống còn 600.000.000 đồng, rút bớt tài sản thế chấp;
- Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020: Số tiền vay (hạn mức tín dụng) là 50.000.000 đồng, thời hạn sử dụng thẻ: 03 năm, lãi suất cho vay: 13%/năm, mục đích vay: tiêu dùng (thẻ tín dụng).
Bà Nguyễn Thị Ngọc O đã xác lập Hợp đồng thế chấp số 275B/HĐTC ngày 15 tháng 6 năm 2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01/275B/HĐSĐTC ngày 12 tháng 12 năm 2022 để thế chấp tài sản bảo đảm nghĩa vụ của bà O theo Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo. Tài sản bảo đảm là: thửa đất số 169, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại phường C, thành phố C,
tỉnh An Giang, diện tích 142,7m², hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: lâu dài, nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS12376 do Sở T2 cấp ngày 17 tháng 8 năm 2017 cho ông Hồ Quốc C, bà Nguyễn Thị Ngọc O; những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận: Tặng cho bà Nguyễn Thị Ngọc O, do Văn phòng Đ Chi nhánh C1 xác nhận ngày 08 tháng 5 năm 2020).
Trong khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo thì:
- Ngày 11 tháng 02 năm 2022, Ngân hàng giải ngân cho bà O nhận nợ 1.900.000.000 đồng, sau đó thì bà O đã trả được số tiền 1.800.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi, còn nợ lại số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng. Từ ngày 12 tháng 12 năm 2022, bà O không thực hiện thanh toán bất kỳ khoản tiền lãi nào tính trên nợ gốc 100.000.000 đồng cũng như không thanh toán khoản nợ gốc này nữa.
- Ngày 12 tháng 8 năm 2022, Ngân hàng giải ngân cho bà O nhận nợ 500.000.000 đồng. Từ ngày 12 tháng 8 năm 2022 đến nay bà N không thanh toán bất kỳ khoản tiền lãi, tiền nợ gốc nào đối với số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng và lãi phát sinh tính trên số tiền này.
Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc O phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A (Do A Chi nhánh thành phố L, An Giang đại diện nhận) toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) cụ thể là:
+ Đối với Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo, số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng, số tiền lãi còn nợ là 137.995.205 đồng (lãi trong hạn 106.509.589 đồng, lãi quá hạn 31.485.616 đồng) tạm tính đến ngày 22 tháng 5 năm 2024.
+ Đối với thẻ tín dụng theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020, số tiền nợ gốc là 58.592.028 đồng, tiền lãi là 780.270 đồng tạm tính đến ngày 10 tháng 5 năm 2024.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc O phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án quyết định cho đến ngày thực tế bà Nguyễn Thị Ngọc O trả hết nợ gốc cho A.
Nếu bà Nguyễn Thị Ngọc O không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A Chi nhánh Thành phố L, An Giang có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Nguyễn Thị Ngọc O theo Hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất số 275B/HĐTC ngày 15 tháng 6 năm 2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/275B/HĐSĐTC ngày 12 tháng 12 năm 2022 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh Thành phố L, An Giang có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị Ngọc O để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Bị đơn: Không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
- Bà Đặng Thanh T (đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Cụ thể: Yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà O phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 08 tháng 7 năm 2024 là 810.856.266 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 649.852.994 đồng, nợ lãi trong hạn là 121.671.244 đồng, nợ lãi quá hạn là 38.942.028 đồng, nợ lãi chậm trả là 390.000.000 đồng. Tuyên buộc bà O phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ gốc. T1 nếu bà O không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì A có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thì A có quyền yêu cầu xử lý bất kỳ tài sản nào của bà O để thu hồi nợ.
- Bị đơn vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc O vắng mặt trong quá trình hòa giải, công khai chứng cứ là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét các hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, nội dung, hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên được pháp luật công nhận, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết làm phát sinh nợ quá hạn nên nguyên đơn yêu
cầu thanh toán nợ gốc, lãi và tiếp tục tính lãi, phí phát sinh cho đến khi trả xong toàn bộ vốn, lãi, phí là có căn cứ phù hợp với quy định tại 280, 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, có công chứng và có đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013, Điều 319, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự 2015. Bên cạnh đó hiện trạng tài sản thế chấp là đất trống, không ai quản lý sử dụng, hiện trạng không thay đổi so với khi ký hợp đồng thế chấp nên không phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu trường hợp bà O không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021, các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng thì khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ theo quy định Điều 299, 320, 321, 322, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì bà Nguyễn Thị Ngọc O phải tiếp tục trả nợ, thi hành án để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Đối với số tiền nợ gốc và lãi, phí đối với thẻ tín dụng thì không có tài sản bảo đảm do trong hợp đồng các bên không thỏa thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi theo hợp đồng tín dụng. Bị đơn không có đăng ký kinh doanh, vay tiền với mục đích chăn nuôi, có thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ. Các bên thỏa thuận tại khoản 5 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021 về việc lựa chọn tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền nơi đóng trụ sở A Chi nhánh L giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
[2] Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Nguyên đơn căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số
01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022; Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm Giấy nhận nợ ngày 11 tháng 02 năm 2022; Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm Giấy nhận nợ ngày 12 tháng 8 năm 2022 và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020; để yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc, tiền lãi chưa thanh toán. Xét thấy, các hợp đồng và văn bản nêu trên (gọi chung là Hợp đồng tín dụng) đều có chữ ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu của Ngân hàng và bà O. Về phía bị đơn, bà O không cung cấp ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, không cung cấp ý kiến, tài liệu về việc giải quyết vụ án. Do đó, các hợp đồng tín dụng đã được hai bên giao kết là trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các bên cũng đã tự nguyện thực hiện hợp đồng được một thời gian thì bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận, giao kết. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên yêu cầu trả nợ vốn và yêu cầu tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận. Từ đó, buộc bà O có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền sau:
[3.1.1] Số tiền nợ phải trả đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022 là: nợ gốc: 600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 114.621.918 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.541.781 đồng (tạm tính đến hết ngày 08 tháng 7 năm 2024). Cụ thể:
- Đối với khoản tiền được giải ngân ngày 11 tháng 02 năm 2022 theo Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm Giấy nhận nợ ngày 11 tháng 02 năm 2022, số tiền còn phải trả: nợ gốc: 100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 16.491.781 đồng, nợ lãi quá hạn: 7.350.000 đồng (tạm tính đến hết ngày 08 tháng 7 năm 2024).
- Đối với khoản tiền được giải ngân ngày 12 tháng 8 năm 2022 theo Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm Giấy nhận nợ ngày 12 tháng 8 năm 2022, số tiền còn phải trả: nợ gốc: 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 98.130.137 đồng, nợ lãi quá hạn: 28.191.781 đồng (tạm tính đến hết ngày 08 tháng 7 năm 2024).
[3.1.2] Kể từ ngày tiếp theo của ngày 08 tháng 7 năm 2024, bà O còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
[3.1.3] Số tiền nợ phải trả đối với khoản vay theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020 là: nợ gốc: 49.852.994 đồng, nợ
lãi trong hạn: 7.049.326 đồng, nợ lãi quá hạn: 3.400.247 đồng, lãi chậm trả lãi: 390.000 đồng (tạm tính đến hết ngày 10 tháng 6 năm 2024)
[3.1.4] Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10 tháng 6 năm 2024, bà O còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
[3.2] Đối với việc thế chấp tài sản:
[3.2.1] Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà O đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 275B/HĐTC ngày 15 tháng 6 năm 2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/275B/HĐSĐTC ngày 12 tháng 12 năm 2022 với A để thế chấp tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bà O. Hợp đồng này được các bên tự nguyện xác lập, có chứng nhận của Văn phòng công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật; nên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đối với: thửa đất số 169, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, diện tích 142,7m², hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: lâu dài, nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS12376 do Sở T2 cấp ngày 17 tháng 8 năm 2017 cho ông Hồ Quốc C, bà Nguyễn Thị Ngọc O; những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận: Tặng cho bà Nguyễn Thị Ngọc O, do Văn phòng Đ Chi nhánh C1 xác nhận ngày 08 tháng 5 năm 2020). Qua xem xét, thẩm định tại chỗ (ngày 25 tháng 4 năm 2024) xác định hiện trạng thửa đất này là đất trống, không có nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hiện không có ai sinh sống, sử dụng. Do đó, trường hợp bà O không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản đã thế chấp sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án.
[3.2.2] Trường hợp tài sản bảo đảm vẫn không đủ để Ngân hàng N1 thu hồi nợ thì bà Nguyễn Thị Ngọc O vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
[3.2.3] Đối với số tiền nợ gốc và lãi, phí theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020, thì các bên không có thỏa thuận về việc thế chấp tài sản bảo đảm.
[4] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, chi phí tố tụng là 800.000 đồng, do A tạm ứng chi trả. Vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng, vì vậy bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền A đã tạm ứng chi trả chi phí này.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên A không phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Bà O phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 227, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Các Điều 299, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 465, 466, 470, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013
- - Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
- - Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 đối với bà Nguyễn Thị Ngọc O về việc trả số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi;
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc O có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1 đại diện nhận) số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022 là: nợ gốc: 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn: 114.621.918 đồng (một trăm mười bốn triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm mười tám đồng), nợ lãi quá hạn: 35.541.781 đồng (ba mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng) (tạm tính đến hết ngày 08 tháng 7 năm 2024).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 08 tháng 7 năm 2024, bà Nguyễn Thị Ngọc O còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo
quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc O có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1 đại diện nhận) số tiền còn nợ theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020 là: nợ gốc: 49.852.994 đồng (bốn mươi chín triệu tám trăm năm mươi hai nghìn chín trăm chín mươi bốn đồng), nợ lãi trong hạn: 7.049.326 đồng (bảy triệu không trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng), nợ lãi quá hạn: 3.400.247 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng), lãi chậm trả lãi: 390.000 đồng (ba trăm chín mươi nghìn đồng) (tạm tính đến hết ngày 10 tháng 6 năm 2024).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10 tháng 6 năm 2024, bà Nguyễn Thị Ngọc O còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 6701290139627 ngày 30 tháng 11 năm 2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 30 tháng 11 năm 2020, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng N1 có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Nguyễn Thị Ngọc O không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202101127 ngày 23 tháng 11 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 20 tháng 12 năm 2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/6701-LAV-202101127/HĐSĐBS ngày 12 tháng 12 năm 2022 nêu trên, thì tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đối với: thửa đất số 169, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, diện tích 142,7m², hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: lâu dài, nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN CS12376 do Sở T2 cấp ngày 17 tháng 8 năm 2017 cho ông Hồ Quốc C, bà Nguyễn Thị Ngọc O; những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận: Tặng cho bà Nguyễn Thị Ngọc O, do Văn phòng Đ Chi nhánh C1 xác nhận ngày 08 tháng 5 năm 2020); được xử lý theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp tài sản bảo đảm vẫn không đủ để Ngân hàng N1 thu hồi nợ thì bà Nguyễn Thị Ngọc O vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng N1 có nghĩa vụ giao trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc O tài sản bảo đảm (nếu còn) cùng các giấy tờ kèm theo khi bà Nguyễn Thị Ngọc O thanh toán xong tất cả các khoản nợ.
3. Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Ngọc O phải chịu chi phí tố tụng; nên bà Nguyễn Thị Ngọc O có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1 đại diện nhận) số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ngân hàng N1 (do Ngân hàng N1 Chi nhánh A1 đại diện) được nhận lại 8.083.978 đồng (tám triệu không trăm tám mươi ba nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001622 ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc O phải chịu 36.325.688 đồng (ba mươi sáu triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm tám mươi tám đồng) tiền án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thùy Giang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Tuyết Hồng Đặng Hữu Tấn |
Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 222/2024/DS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
- Số bản án: 222/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
