Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2025/DS-ST

Ngày: 19-6- 2025

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Trường An

Ông Bùi Xuân Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên

tòa: Ông Lâm Chí Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 185/2025/TLST- DS ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị L – sinh năm 1963 (Xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lê Văn T – sinh năm 1969 (Vắng mặt)

Bà Phạm Tuyết N – sinh năm 1070 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị L trình bày: Ngày 06/4/2020 (âm lịch) bà có mở dây hụi loại 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, có 28 chưng. Vợ chồng bà Phạm Tuyết N và ông Lê Văn T có tham gia 02 chưng và đã hốt hết 02 chưng, bà đã giao tiền hụi đủ cho bà N. Sau khi hốt hụi thì bà N có đóng hụi chết được 24.000.000 đồng (mỗi lần đóng bà N đều có ký tên) thì ngưng đóng, hiện dây hụi này đã mãn vợ chồng bà N ông T còn phải đóng cho bà 28.000.000 đồng, từ đó đến nay bà N không trả tiền cho bà, mặc dù bà đã trao đổi nhiều lần với vợ chồng bà N. Nay yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Phạm Tuyết N trả cho bà số tiền là 28.000.000 đồng.

Đối với bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N, quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải nhiều lần nhưng bà N ông N từ chối ký nhận văn bản tố tụng của Toà án, vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị L, buộc bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N trả số tiền 28.000.000 đồng cho bà Võ Thị L. Đồng thời, xử lý án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N thanh toán tiền hụi. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N hiện đang cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng phía bị đơn là ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N vắng mặt, nguyên đơn bà Võ Thị L có yêu cầu xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị L về việc yêu cầu bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N trả số tiền hụi 28.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Danh sách hụi viên do bà L cung cấp thì các hụi viên khi hốt hụi đều có ký nhận vào danh sách, bị đơn ông T bà N có tham gia 02 chưng ở vị trí 18 -19, tên “3 T”, khi hốt hụi có chữ ký viết tên của bà Phạm Tuyết N, cho thấy việc giao dịch hụi và nợ tiền hụi giữa các bên là thực tế có xảy ra. Bà L cho rằng ông T bà N còn nợ tiền hụi là 28.000.000 đồng. Trong khi đó, quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhiều lần, đã nhận được các văn bản tố tụng, được biết nội dung khởi kiện và tài liệu, chứng cứ bà L cung cấp nhưng ông T bà N từ chối nhận văn bản tố tụng của Toà án, vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến xem như ông T và bà N mặc nhiên thừa nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị L.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị L, buộc bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị L số tiền là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).

[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị L nên bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cụ thể: 28.000.000 đồng x 5% = 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 92, 147, 227, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 468, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị L đối với bị đơn ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N.

    Buộc ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị L số tiền 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  2. Về án phí: Ông Lê Văn T và bà Phạm Tuyết N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựhì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Văn Thời
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Yến Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 222/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu thanh toán tiền hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger