Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2025/DS-PT

Ngày: 10-4-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Diệp
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 648/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 148/2025/QĐ-PT, ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Kim Q, sinh năm 1933. (đã chết ngày 18/3/2023)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1962; địa chỉ: số G đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1955; địa chỉ: số F đường Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1959; địa chỉ: số B đường D, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: ông Phan Thanh N1, sinh năm 1980; địa chỉ: số A, khu phố

2

E, phường T, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 10 và 14/6/2023); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Quốc V – Luật sư Công ty L2 – Đoàn Luật sư Thành phố H; vắng mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1962.
  2. Địa chỉ: số D - D N, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Đỗ Văn V1, sinh năm 1968.
  4. Ông Đỗ Văn Q1, sinh năm 1972.
  5. Cùng địa chỉ: K, khu phố T, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Võ Thanh S, sinh năm 1994; địa chỉ: số I đường Đ, tổ B, khu phố F, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt và ông Trần Bảo A, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 24/7/2023); vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Đỗ Hữu Đ, sinh năm 1939; địa chỉ: khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1955; địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đỗ Kim Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày: Cha mẹ của bà Đỗ Kim Q là cụ Đỗ Văn C (sinh năm 1885 không rõ năm chết) và cụ Châu Thị X (sinh năm 1890, chết năm 1977). Cụ C và cụ X là chủ một số thửa đất tại P, T và T (nay thành phố T, tỉnh Bình Dương). Cụ C có 03 người con gồm: ông Đỗ Văn P1, sinh năm 1912 là con của vợ đầu là bà Tô Thị G, sau khi bà G chết thì cụ C kết hôn với cụ Châu Thị X và sinh được 02 người con là ông Đỗ Văn Q2, sinh năm 1915 và bà Đỗ Kim Q, sinh năm 1933.

Ngày 15/12/1944, cụ C và cụ X đã làm văn bản “Tờ cho và chia đất” để chia đất cho các con. Theo văn bản này, do ông Đỗ Văn P1 có tính ngỗ ngược, cờ bạc nên cụ C và cụ X chia phần của ông P1 cho 02 người con ông P1 là Đỗ Như L1 (khi đó 13 tuổi) và Đỗ Minh K khi đó 08 tuổi, sau này đổi tên là Đỗ Văn B). Nhưng do các cháu còn nhỏ nên để bà Tống Thị T1 là mẹ của hai cháu đứng tên nhận và quản lý giùm. Bà Q khi đó mới 11 tuổi nên phần của bà Q do mẹ là cụ X đứng tên quản lý giùm. Văn bản phân chia này có sự đồng ý và ký tên, lăn tay của người

3

nhận lãnh phần đất được phân chia. Ngoài ra còn có hai người trong gia tộc làm chứng và có sự chứng thực của chính quyền thời bấy giờ. Việc cho và phân chia đất này sau đó đã được Ty Điền địa Biên Hòa hoàn tất thủ tục đăng ký theo tờ “Thông tri sang bộ, ghi bộ hay xóa bộ” ngày 01/10/1970. Theo đó, bà Q được sở hữu 02 thửa đất gồm: thửa thứ nhất bằng khoán số 139, số họa đồ 137, diện tích 3.M07S.20. Thửa thứ hai số bằng khoán 180, số họa đồ 112, diện tích 0.M53S.12.

Do thời điểm chia đất bà Q mới 11 tuổi, đến năm 16 tuổi thì bà Q đi tham gia kháng chiến chống Pháp, sau đó tập kết ra miền B. Tháng 5/1975, giải phóng miền N, bà Q mới trở về quê hương. Tuy nhiên, suốt mấy chục năm không ai trong gia đình cho bà Q biết là bà Q được cha mẹ chia cho đất. Đến ngày 07/4/2021, ông Đỗ Hữu Đ (là cháu bà Q) mới cho bà Q biết và chuyển cho bà Q các giấy tờ chứng minh đến các thửa đất mà bà Q đã được cha mẹ cho và đăng ký tên bà Q từ ngày 01/10/1970. Ông Nguyễn Ngọc T (cháu bà Q là con ông Đỗ Như L1, ông L1 là người mượn đất của bà Q để làm cơ sở sản xuất gạch) còn cho biết thêm trong thời gian bà Q đi kháng chiến thì năm 1968 người con của ông Đỗ Văn P1 là Đỗ Như L1 đã mượn thửa đất có số họa đồ 137 diện tích 3.M07S.20 của bà Q để làm lò gạch. Sau đó, bà L1 cho ông Đỗ Văn B phụ giúp trông coi việc xây dựng và sản xuất gạch. Đến khoảng năm 1971, bà L1 chết thì ông Đỗ Văn B tiếp tục sử dụng phần đất để sản xuất gạch.

Năm 1977, cụ X chết. Ông Đỗ Văn B đã kê khai làm thủ tục gian dối để được Ủy ban nhân dân tỉnh S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/5/1990 cho Cơ sở sản xuất gạch ngói Hậu Nghiệp. Đến năm 2015, ông Đỗ Văn B làm thủ tục và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/12/2015. Ngày 08/02/2020, ông Đỗ Văn B chết. Ông Đỗ Văn Q1 (con ông B) thay mặt mẹ và các anh chị em, các cháu làm “Tờ tường trình về quan hệ nhân thân” để bổ túc hồ sơ khai di sản thừa kế và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 055754, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08791 mang tên ba người là Đỗ Văn Q1, Đỗ Văn V1, Đỗ Thị H. Bà Đỗ Thị H đại diện đứng tên đại diện cho ông V1, ông Q1. Diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 12.256,7m².

Theo “Tờ cho và chia đất” thì thửa thứ hai bà Q được chia nay là các thửa đất số 454, 478, 540, 947, 443, tờ bản đồ số 16, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Đỗ Văn B, bà Trần Thị B1 đã làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 674160, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH04999 do Ủy ban nhân dân thành phố T2 cấp ngày 28/9/2016. Sau khi ông B1, bà B1 chết thì ông V1, ông Q1, bà H đã làm thủ tục phân chia di sản thừa kế của ông B1, bà B1 để lại và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 20/10/2020.

4

Việc cụ C, cụ X phân chia đất đai cho các con là rất rõ ràng, công khai, minh bạch và đã được xác lập bằng văn bản của chính quyền thời bấy giờ, các con cháu ai cũng biết nhưng lợi dụng khi bà Q đi kháng chiến không biết sự việc nên không thể làm thủ tục cập nhật sang tên theo chính sách đất đai của Nhà nước. Ông Đỗ Văn B từ chỗ mượn đất của bà Q để sản xuất gạch đã giấu bà Q và lừa dối chính quyền, cơ quan chức năng để làm thủ tục hợp thức hóa để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cơ sở sản xuất gạch ngói và sang tên vợ chồng ông Đỗ Văn B năm 2015. Đến nay, những người con của ông B làm thủ tục thừa kế đứng tên họ.

Do đó, bà Đỗ Kim Q khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố T giải quyết:

  • - Buộc bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 trả lại cho những người thừa kế của bà Đỗ Kim Q phần đất diện tích 12.256,7m² tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 16, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  • - Buộc bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 trả lại cho những người thừa kế của bà Đỗ Kim Q phần đất diện tích 17.506,1m² tại các thửa đất số 443, 454, 478, 540, 947, tờ bản đồ số 16, tại phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
  • - Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 055754, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS08791 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/5/2020 mang tên bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 thửa đất số 352, tờ bản đồ số 16, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 079860, CX 079861, CX 079862, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS09115 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/10/2020 mang tên bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn Q1, ông Đỗ Văn V1 các thửa đất số 454, 478, 540, 947, tờ bản đồ số 16, thửa 443, tờ bản đồ số 19, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá, không có ý kiến gì khác. Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả diện tích 12.256,7m² tại thửa đất số 352. Theo kết quả đo đạc thực tế phần đất tranh chấp tại thửa đất số 352 có diện tích 12.225,8m² thì nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích 30,9m² thuộc thửa đất số 352, chỉ yêu cầu đối với diện tích 12.225,8m².

- Bị đơn trình bày: Bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1, ông Đỗ Văn Q1 hiện đang quản lý sử dụng các thửa đất sau: Thửa 352, tờ bản đồ số 16, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 055754, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08791 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/05/2020 cho bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1, ông Đỗ Văn Q1. Thửa 454, 478, 540, 947 tờ bản đồ số 16, thửa 443 tờ bản đồ số 19 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 079860, CX

5

079861, CX 079862 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS09115 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/10/2020 cho bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1, ông Đỗ Văn Q1. Nguồn gốc thừa kế từ ông cha là ông Đỗ Văn B. Hai thửa đất nói trên có một phần ông B được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, phần còn lại do ông B nhận chuyển nhượng từ những người khác (các giấy tờ mua bán đất hiện do cơ quan nhà nước lưu giữ khi cấp sổ, còn lại một số giấy tờ gia đình lưu giữ nhưng cũng đã bị thất lạc gần hết).

Trước yêu cầu khởi kiện của bà Q, bị đơn không đồng ý, bởi lẽ bị đơn khẳng định rằng về mặt ý chí bà Q không có ý định tranh chấp đối với khu đất này, vì bà Q không có bất cứ một loại giấy tờ nào về khu đất và từ năm 2016 bà Q đã bị lẫn, lúc nhớ lúc quên, tất cả sinh hoạt đều được sự trợ giúp của người khác. Trong vụ tranh chấp này do ông Nguyễn Văn P con trai bà Q. Năm 2018, ông P có gặp bà H trao đổi về khu đất này, ông P có xin bà H một phần nhưng không được chấp nhận, xuất phát từ lý do đó và thực tế ông P có nhiều mối quan hệ ở Trung ương, trước giờ những gì ông P muốn là sẽ được nên mới khởi kiện. Tòa án có thể xem xét trong tất cả các hồ sơ mà bà Q đã gửi đến Tòa án, bà Q chỉ điểm chỉ, không có chữ ký chữ viết nào.

Trong suốt thời gian qua, ông Nguyễn Văn P đã bằng nhiều cách khác nhau cố gắng thu thập tài liệu chứng cứ theo ý chủ quan của ông P nhằm mục đích tranh chấp cho bằng được khu đất này. Bị đơn đặt giả thiết rằng khu đất này có nguồn gốc là của bà Q thì nay bà Q cũng không có quyền tranh chấp nữa, vì toàn bộ khu đất này trước đây nhà nước đã tiếp quản sử dụng trong thời gian rất lâu, sau đó gia đình bà H mới được nhà nước cấp lại, và cha mẹ bị đơn đã mua lại của những người xung quanh mới có được diện tích như hôm nay. Tại khoản 5, Điều 26 Luật Đất đai năm 2013 có quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của N2, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Căn cứ vào quy định này thì bên nguyên đơn không có quyền khởi kiện và tranh chấp đối với khu đất này. Phía nguyên đơn khởi kiện đã căn cứ vào Tờ chia và cho đất lập ngày 15/12/1944, giấy chúc ngôn lập tháng 6/195, theo các tài liệu này thì người cho đất còn chưa có giấy tờ về đất đai thì có quyền cho tặng không; và các giấy tờ này không được công chứng chứng thực, tất cả chỉ là bản photo copy nên không có giá trị về mặt pháp lý; đồng thời Miền Nam giải phóng vào ngày 30/4/1975, trong khi những giấy tờ này lập từ năm 1944 thì có thể sử dụng được không.

Mặt khác, các loại giấy tờ này không thể hiện vị trí đất ở đâu, cũng như không thể hiện khu đất có tứ cận giáp ai, khu đất do có hình dạng như thế nào, vậy thì dựa vào cơ sở nào để cho rằng các thửa 352, 454, 478, 540, 947 tờ bản đồ số 16, thửa 443 tờ bản đồ số 19 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương mà bà Đỗ

6

Thị H, ông Đỗ Văn V1, ông Đỗ Văn Q1 đang quản lý sử dụng có nguồn gốc là của bà Đỗ Kim Q đã được cho tặng trước đây. Từ những phân tích trình bày trên, bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người làm chứng ông Đỗ Hữu Đ trình bày: nguồn gốc phần đất tranh chấp giữa bà Đỗ Kim Q và bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1, ông Đỗ Văn Q1 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương là do ông nội của ông Đ là ông Đỗ Văn C để lại cho con gái là bà Đỗ Kim Q (ông Đ gọi bà Q là cô). Ông C có làm giấy tờ là Tờ cho và chia đất để lại cho bà Q phần đất diện tích 3M.07S.20 tại số bằng khoán 139, số hoạ đồ 137 tại T (nay là phường T). Khi cho đất do bà Q còn nhỏ nên mẹ là bà Châu Thị X đứng ra quản lý giúp và có cho ông Đỗ Văn B (là cha của bà H, ông V1, ông Q1) mượn phần đất này để làm lò gạch. Về giấy tờ về việc cho đất thì do bà X giữ, sau đó giao lại cho mẹ ông Đ. Khoảng năm 1980, mẹ ông Đ mới giao lại cho ông Đ lưu giữ. Đến tháng 4/2020, sau khi biết ông Đỗ Văn B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này thì ông Đ mới giao lại các giấy tờ về việc ông C cho bà Q phần đất này để bà Q khởi kiện đòi lại đất.

- Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Thửa đất số 352 tờ bản đồ số 16, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có diện tích 12.256,7m² là đất thuộc quyền sử dụng (sở hữu hợp pháp theo cách gọi thời chế độ cũ) của bà Đỗ Kim Q (cô ruột ông T, thường gọi là cô C1). Đây là thửa đất nằm trong tổng diện tích 3M.07.20 mà bà Q được ông bà cố nội của ông T là Đỗ Văn C và Châu Thị X chia cho theo “Tờ cho và chia đất” ngày 15/12/1944, có xác nhận của chính quyền cũ và đã được Ty Điền địa Biên Hòa đăng bộ ngày 01/10/1970 thể hiện bằng giấy chứng nhận Thông tri sang bộ, ghi hộ hay xoá bộ của Trưởng ty Điền địa B2. Năm 1968, cha mẹ ông T là Đỗ Như L1 (là con gái của ông Đỗ Văn P1 và bà Tống Thị T1) và ông Nguyễn Văn H1 về thửa đất này làm lò gạch. Năm 1969 bà L1 kêu cậu Ba – ông Đỗ Văn K1 (sau này đổi tên thành Đỗ Văn B) về phụ bà L1 làm lò gạch. Đến khoảng năm 1970, ông B mâu thuẫn với cha mẹ của ông T nên có xây 1 cặp lò riêng cũng trên mảnh đất này để tự ra làm ăn riêng. Đến năm 1971 bà Đỗ Như L1 chết, ông T về ở với cha là ông Nguyễn Văn H1 phụ làm lò gạch. Được vài năm, gia đình ông T ngưng sản xuất gạch. Ông B vẫn tiếp tục làm gạch cho đến những năm đầu 1980. Trong thời gian ngưng làm lò gạch, ông Đỗ Văn B có ý định sang nhượng thửa đất này nhưng ông T đã phản đối vì ông T biết chắc đây không phải là đất của ông B. Nhiều lần ông B năn nỉ ông T ký để sang nhượng thửa đất này cho người khác nhưng ông T không đồng ý. Sau khi ông Đỗ Văn B chết (tháng 02/2020), các con của ông B lại có ý định sang nhượng cho người khác thửa đất nói trên. Ngày 15/3/2021, ông T làm đơn ngăn chặn gửi Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T và phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T, tỉnh Bình Dương. Cùng thời gian này, ông Đỗ Hữu Đ có đưa các giấy tờ bản gốc chứng minh thửa đất nói trên là của bà Đỗ Kim Q, được ông bà cố nội của ông T là cụ C và cụ X chia cho từ năm 1944 và được chính quyền cũ sang tên đăng bộ năm 1970. Theo ông T được biết,

7

nguồn gốc đất với diện tích 12.256,7 m² nêu trên nguồn gốc của bà Đỗ Kim Q, mà bà cố nội của ông T là cụ X cho bà L1 mượn làm lò gạch từ năm 1968.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: buộc bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 trả lại cho những người thừa kế của bà Đỗ Kim Q diện tích 12.225,8m² tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 16 và diện tích 17.506,1m² tại các thửa đất số 443, 454, 478, 540, 947, tờ bản đồ số 16, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 055754, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08791 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/5/2020 mang tên bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V2 ông Đỗ Văn Q1 thửa đất số 352, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 079860, CX 079861, CX 079862, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS09115 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/10/2020 mang tên bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn Q1, ông Đỗ Văn V1 đối với các thửa đất số 454, 478, 540, 947, tờ bản đồ số 16, thửa 443, tờ bản đồ số 19, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích 30,9m² thuộc thửa đất số 352. Người đại diện hợp pháp của bị đơn giữ nguyên quan điểm, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 58/DS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Thu N về việc yêu cầu bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 trả lại cho những người thừa kế của bà Đỗ Kim Q phần đất diện tích 30,9m² tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 16, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Thu N đối với bị đơn bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 về việc buộc bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 trả lại cho những người thừa kế của bà Đỗ Kim Q phần đất diện tích 12.225,8m² tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 16, diện tích 17.506,1m² tại các 454, 478, 540, 947, tờ bản đồ số 16, thửa đất số 443, tờ bản đồ số 19 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về

Ý kiến của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của

8

nguyên đơn bà Q. Theo đơn kháng cáo ghi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.Hồ sơ thể hiện: những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn rút một phần khởi kiện về diện tích 30,9m² thuộc thửa đất số 352, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết diện tích 12.225,8m², được Tòa sơ thẩm nhận định việc rút một phần diện tích khởi kiện như trên của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là tự nguyện, nên đình chỉ xét xử đối với diện tích trên do đương sự đã rút là đúng khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Nội dung các đương sự còn đang tranh chấp, gồm 02 phần đất như sau: Diện tích 12.225,8m² đất thuộc thửa số 352 và diện tích đất 17.506,1m² thuộc các thửa số 443, 454, 478, 540, 947, tờ bản đồ số 16, 19 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Quá trình tố tụng, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn yêu cầu bị đơn gồm bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 trả lại 02 phần đất có diện tích như trên. Chứng cứ nguyên đơn cho rằng 02 phần đất có nguồn gốc của cha tên Đỗ Văn C, mẹ tên Châu Thị X tặng cho nguyên đơn tên Đỗ Kim Q theo Tờ cho và chia đất ghi ngày 15/12/1944, được Ty Điền địa Biên Hòa hoàn tất thủ tục đăng ký theo tờ “Thông tri sang bộ, ghi bộ hay xóa bộ” ngày 01/10/1970, thể hiện nội dung “bà Q được sở hữu 02 thửa đất gồm: thửa thứ nhất bằng khoán số 139, số họa đồ 137, diện tích 3.M07S.20 và thửa thứ hai số bằng khoán 180, số họa đồ 112, diện tích 0.M53S.12".

Bị đơn không đồng ý khởi kiện của nguyên đơn, vì cho rằng 02 phần đất bị đơn được hưởng thừa kế từ cha tên Đỗ Văn B, còn 02 cụ Đỗ Văn C và Châu Thị X chưa có giấy tờ về đất đai, các giấy tờ về việc 02 cụ C và X tặng cho bà Đỗ Kim Q 02 phần đất như trên không được công chứng, chứng thực. Miền Nam giải phóng vào ngày 30/4/1975, trong khi những giấy tờ này lập từ năm 1944, nên không có giá trị về mặt pháp lý. Mặt khác, các loại giấy tờ này không thể hiện vị trí đất ở đâu, cũng như không thể hiện khu đất có tứ cận giáp ai, khu đất cho có hình dạng như thế nào nên không có cơ sở để cho rằng các thửa đất 352, 443, 454, 478, 540, 947 bị đơn đang quản lý sử dụng có nguồn gốc của bà Đỗ Kim Q đã được 02 cụ C và X cho tặng. Xét thấy: Chứng cứ do Tòa sơ thẩm thu thập thể hiện nguồn gốc đất như sau; diện tích 12.225,8m² đất thuộc thửa số 352, tờ bản đồ 16, theo hồ sơ thể hiện tại lời khai của ông Đỗ Hữu Đ (cháu của nguyên đơn bà Đỗ Kim Q - con ông Đỗ Văn Q2) và lời khai của ông Nguyễn Ngọc T (cháu bà Q - con bà Đỗ Như L1) xác định “trong thời gian nguyên đơn bà Q đi kháng chiến, thì năm 1968 bà Đỗ Như L1 đã mượn thửa đất có số họa đồ 137 diện tích 3.M07S.20 của nguyên đơn bà Q để làm lò gạch. Sau đó, bà L1 cho ông Đỗ Văn B phụ giúp trông coi việc xây dựng và sản xuất gạch. Đến khoảng năm 1971, bà L1 chết thì ông Đỗ Văn B tiếp tục sử dụng phần đất này để sản xuất gạch và thành lập Cơ sở sản xuất gạch ngói Hậu Nghiệp”. Tại hồ sơ cấp thửa đất này cho ông Đỗ Văn B và bà Trần Thị B1 vào ngày 21/12/2015, ghi nguồn gốc được cấp đổi giấy cho ông Đỗ Văn B và bà Trần Thị B1 là dựa trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Cơ sở sản xuất gạch

9

ngói Hậu Nghiệp ngày 10/5/1990 sang cho cá nhân ông Đỗ Văn B và bà Trần Thị B1 vào ngày 21/12/2015. Từ chứng cứ như phân tích trên, có căn cứ xác định thửa đất này có nguồn gốc là tài sản của nguyên đơn bà Q cho bà L1 mượn để sản xuất gạch, sau khi bà L1 chết thì ông B1 (con bà L1) tiếp tục sử dụng đất và đăng ký kê khai để được cấp giấy, sau khi ông B1 chết thì các con ông B1 là bị đơn trong vụ án nhận thừa kế tài sản này và đang quản lý sử dụng. Sau khi tham gia kháng chiến về, nguyên đơn bà Q khởi kiện yêu cầu gia đình bị đơn trả lại đất là có căn cứ. Diện tích đất 17.506,1 m² thuộc các thửa đất số 454, 478, 540, 947 tờ bản đồ số 16 và thửa 443 tờ bản đồ 19. Theo hồ sơ thể hiện, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 01/QĐ-UB ngày 03/01/1997 thuận quy hoạch của ông Đỗ Văn B, với nội dung “xác định nguồn gốc đất trước năm 1975 của thân tộc ông Đỗ Văn B khai thác đất sét” và hồ sơ còn thể hiện vào ngày 08/01/1998, ông Đỗ Văn B có gửi đơn thưa chính quyền địa phương để đòi lại ao, hầm đất. Tại đơn này có nội dung ông B xác định “đất ao, hầm có nguồn gốc của cụ Đỗ Văn C tặng cho bà Q (bà Q là nguyên đơn trong vụ án), khi bà Q đi tập kết thì bà nội ông B (bà nội tức là cụ Châu Thị X) cho ông B để sản xuất gạch, mỗi năm ông B trả tiền huê lợi cho cụ X để tiêu xài”. Như vậy, có căn cứ xác định chính lời thừa nhận của ông B (ông B là cha của các bị đơn) về nguồn gốc đất như trên đã chứng minh diện tích đất nêu trên là tài sản thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn bà Q, nên bà Q khởi kiện đòi gia đình bị đơn trả lại đất là có căn cứ. Hai phần đất tranh chấp chính là các thửa đất có số họa đồ 137 diện tích 3.M07S.20 và thửa đất số bằng khoán 180, số họa đồ 112, diện tích 0.M53S.12, được thể hiện tại Tờ cho và chia đất ngày 15/12/1944, Thông tri sang bộ, chi bộ hay xóa bộ ngày 01/10/1970, có sự xác nhận của chính quyền lúc bấy giờ, thể hiện nội dung “cha tên Đỗ Văn C, mẹ tên Châu Thị X tặng cho con tên Đỗ Kim Q” và tại Đơn thưa đòi lại ao, hầm đất ngày 08/01/1998 chính cha của các bị đơn tên Đỗ Văn B thừa nhận xác định đất ao, hầm “có nguồn gốc của cụ C cho bà Q”, nên nguyên đơn bà Q khởi kiện đòi gia đình bị đơn trả lại 02 phần đất là có căn cứ.

Quá trình tố tụng, bị đơn (các con của ông B) cho rằng “02 phần đất này là tài sản của bị đơn, vì trước đó bà Q đã tặng 02 phần đất trên cho ông B (là cha của bị đơn), nay ông B chết thì bị đơn là các con của ông B nhận thừa kế của Ba và bị đơn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, nhưng bị đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ gì thể hiện bà Q đã tặng cho ông B 02 phần đất này như lời trình bày của bị đơn, nên ý kiến của bị đơn như trên là không có căn cứ xem xét, việc cơ qaun có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 phần đất trên cho ông B là chưa phù hợp quy định pháp luật đất đai như đã phân tích trên. Ngược lại, như phân tích trên nguyên đơn bà Q là người có một trong các giấy tờ về đất đúng quy định Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, nên đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc gia đình bị đơn có quá trình quản lý, sử dụng đất từ trước năm 1975, nguyên đơn bà Q không có quá trình quản lý, sử dụng đất là bởi lý do bà Q tham gia kháng chiến khi

10

mới 16 tuổi. Đến năm 1975, bà Q trở về quê hương sinh sống cùng với mẹ là cụ X, nhưng cụ X đã già yếu, không nhớ để giao lại giấy tặng cho đất để bà Q giữ, nên bà Q không biết chính bà Q là người được cha mẹ tặng cho đất, được chính quyền địa phương tại thời điểm đó xác nhận và đăng ký đăng bộ vào sổ đăng ký của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời đó như đã phân tích trên, cho đến khi cụ X chết năm 1977, nên đây là yếu tố khách quan nguyên đơn bà Q không có quá trình sử dụng đất lâu dài như gia đình bị đơn, nhưng đây không phải do lỗi của nguyên đơn bà Q. Do đó, Tòa sơ thẩm nhận định nguyên đơn bà Q không có quá trình quản lý, sử dụng đất lâu dài như gia đình bị đơn và nhận định 02 phần đất trên sau năm 1975 cơ quan có thẩm quyền thu hồi để cấp lại theo đơn đăng ký kê khai của ông B, nên ông B được cấp giấy, nay ông B chết các con của ông B là bị đơn trong vụ án nhận thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn là không đúng chứng cứ và không phù hợp quy định pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố T kháng nghị với nội dung đề nghị Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn là đúng chứng cứ có tại hồ sơ và phù hợp pháp luật nên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của đương sự, chấp nhận Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T. Sửa Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương theo hướng chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về nội dung tranh chấp: Phần đất tranh chấp có diện tích 12.225,8m² tại thửa đất số 352, tờ bản đồ số 16, 19 tại phường T, thành phố T và diện tích 17.506,1m² tại các thửa đất số 443, 454, 478, 540 thì người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn yêu cầu bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 trả lại đất.

Nguyên đơn cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ của bà Q là cụ Đỗ Văn C và cụ Châu Thị X cho bà Q theo tờ cho và chia đất ngày 15/12/1944 và được Ty Đ1 địa Biên Hòa hoàn tất thủ tục đăng ký theo tờ “Thông tri sang bộ, ghi bộ hay xóa bộ” ngày 01/10/1970. Theo tờ giấy cho đất bà Q được sở hữu 02 thửa đất gồm: thửa thứ nhất bằng khoán số 139, số họa đồ 137, diện tích 3.M07S.20. Thửa thứ hai số bằng khoán 180, số họa đồ 112, diện tích 0.M53S.12.

Bị đơn xác định phần đất tranh chấp được hưởng thừa kế từ ông Đỗ Văn B (cha). Bị đơn cho rằng cụ C, cụ X chưa có giấy tờ về đất đai, các giấy tờ về việc tặng cho đất không được công chứng, chứng thực, miền N giải phóng vào ngày

11

30/4/1975, trong khi những giấy tờ này lập từ năm 1944 nên không có giá trị về mặt pháp lý. Mặt khác, các loại giấy tờ không thể hiện vị trí đất ở đâu, cũng như không thể hiện khu đất có tứ cận giáp ai, khu đất cho có hình dạng như thế nào nên bị đơn xác định không có cơ sở để khẳng định các thửa đất 352, 443, 454, 478, 540, 947 mà bị đơn đang trực tiếp quản lý sử dụng có nguồn gốc của bà Q được cho tặng. Do đó, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án xét thấy: hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đỗ Văn B thể hiện ngày 22/10/2015, ông Đỗ Văn B làm đơn đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 352 (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cơ sở sản xuất gạch ngói Hậu Nghiệp). Ngày 21/12/2015, ông Đỗ Văn B và bà Trần Thị B1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 079371, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04462. Ngày 18/01/2016, ông Đỗ Văn B làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất số 443, 454, 478, 540, 947. Ngày 08/5/2020, Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 674160, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH04999. Sau khi ông B chết, năm 2020, những người thừa kế của ông B làm thủ tục phân chia di sản thừa, theo đó bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 được thừa kế toàn bộ phần đất. Do đó, ngày 08/5/2020 bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 055754, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08791 thửa đất số 352 với diện tích 12.256,7m², số CX 079862, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS09115 và ngày 20/10/2020 bà Đỗ Thị H, ông Đỗ Văn V1 và ông Đỗ Văn Q1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa đất số 443, 454, 478, 540, 947 tổng diện tích 16.896,3m².
    1. Về nguồn gốc đất thửa đất số 352, trước đây được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cơ sở sản xuất gạch ngói Hậu Nghiệp. Sau đó, ông Đỗ Văn B xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Đối với các thửa đất số 443, 454, 478, 540, 947 có nguồn gốc trước đây của thân tộc ông Đỗ Văn B đã khai thác đất sét, sau năm 1975 bỏ hoang hoá và do Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Ngày 03/01/1997, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành quyết định số 09/QĐ-UB về việc quy thuận quy hoạch đất cho ông Đỗ Văn B để cải tạo phục hoá sản xuất. Ngày 18/01/2016, ông B làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với nguồn gốc là ông bà để lại sử dụng ổn định từ trước năm 1972, đã được Ủy ban nhân dân phường T xác nhận và được Hội đồng xét cấp đất xét duyệt.

Xét thấy thời điểm ông Đỗ Văn B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình ông Đỗ Văn B là người trực tiếp quản lý sử dụng đất, nguồn gốc đất rõ ràng, có đăng ký kê khai đất nên được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bà là đúng theo quy định Luật Đất đai tại Điều 99 và Điều 100, đất tranh

12

chấp gia đình ông B trực tiếp quản lý, sử dụng xuyên suốt từ năm 1972 cho đến nay đã 53 năm thì được nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai, tuy nhiên nguyên đơn cho rằng đất tranh chấp gia đình nguyên đơn được thời kỳ chế độ của cấp giấy Ty Điền địa Biên Hòa hoàn tất thủ tục đăng ký theo tờ “Thông tri sang bộ, ghi bộ hay xóa bộ” ngày 01/10/1970 và đã giao cho nguyên đơn (bà Q) theo Tờ cho và chia đất ngày 15/12/1944 nên nguyên đơn xác định phần đất tranh chấp là của nguyên đơn. Qua ý kiến của nguyên đơn xét thấy đất tranh chấp gia đình của nguyên đơn từ khi giải phóng cho đến nay chưa đăng ký kê khai đất tại chính quyền địa phương trải qua nhiều thời kỳ luật đất đai ra đời và từ khi giải phóng đến nay cũng chưa bao giờ quản lý, sử dụng đất tranh chấp cho nên trên đất không có tài sản nào của nguyên đơn. Vì vậy nguyên đơn không được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn cho rằng đất tranh chấp không thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn là hoàn toàn không có căn cứ. Nguyên đơn lấy lý do đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình nguyên đơn để khởi kiện buộc bị đơn phải trả lại đất là không có căn cứ chấp nhận như đã phân tích phần trên.

  1. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử là hoàn toàn có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần phải giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  2. Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố T và chấp nhận cáo của nguyên đơn, vì cho rằng đất có nguồn gốc của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải nộp do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 148 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 43/QĐKN/VKS-DS ngày 01/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Không chấp yêu cầu kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Thu N.
  3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

13

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Thu N được miễn án phí do người cao tuổi.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND TP. T;
  • - CCTHADS TP. T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Tòa Dân sự, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Thị Bích Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 222/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger